Monday, 31 October 2011

TỰ TÁNH DI ĐÀ
Minh Mẫn

Tất cả kinh điển Phật giáo nói chung và kinh điển Phật giáo Bắc truyền nói riêng, đều xoay quanh vấn đề sống và chết, nhất là Phật giáo Tây Tạng, để mở ra con đường giải thoát. Sống như thế nào để hiện tại được an lạc, hạnh phúc và chuẩn bị cho cái chết tốt đẹp, chết như thế nào cho cuộc sống tương lai thanh thoát nếu không nói là được giải thoát.
Sự diễn dịch của kinh điển đều hướng hành giả đi vào chọn lựa cách sống và rèn luyện thân tâm. Nhất là kinh tạng Bắc truyền chứa đựng triết lý uyên thâm dưới dạng truyền tích. Thêm vào đó là những luận giải của chư tổ, các hành giả, học giả và thiện tri thức giúp cho nội dung kinh điển thêm phần sáng tỏ.

Kinh điển Bắc truyền, trên cơ sở Nikaya, sau 6 thế kỷ, triển khai sâu rộng qua nhiều triết luận và pháp hành, đến độ diện mạo nguyên thủy không còn nhận dạng rõ nét. Nhưng tinh túy vẫn không xa tôn chi của Tam pháp ấn. Nhờ thế, Phật giáo Bắc truyền đã lan tỏa sâu rộng hơn Phật giáo Nam truyền, cũng từ đó, tinh thần “Phật giáo phát triển” thấm sâu vào mọi sinh hoạt xã hội châu Á: – âm nhạc - hội họa – kịch nghệ - phim ảnh – chính trị - văn hóa – tập quán – ngoại giao…. Riêng pháp hành cũng đa dạng. Mỗi thời đại, tùy căn cơ tín chúng mà chư tổ triển khai một pháp môn tương thích. Khi Phật giáo Trung Hoa bàng bạc pháp môn Tịnh độ, chốn già lam gắn kết với nông nghiệp, việc trì bình khất thực không còn thích ứng; Từ vua quan đến thứ dân quen nghe đến việc hành thiện cầu phước, việc tạo tượng xây chùa đúc chuông là tiêu điểm để lập công bồi đức thì việc hướng nội tham thiền trở nên xa lạ, dành cho những bậc thượng căn trí tuệ. Từ đó, có sự phân cách giữa hành trạng tu tịnh và hành thiền, cứ như hai lãnh vực nầy không liên quan đến nhau. Do vậy, khi Bồ Đề Đạt Ma đặt chân đến Trung Hoa, phủ nhận việc tạo 72 cảnh chùa của Lương Võ Đế thuộc về công đức, liền bị nhà vua xem Ngài là bọn ngoại đạo, vì không tương thích với truyền thống Phật giáo bản địa chứng tỏ vua chưa hiều giữa phước đức và công đức, cũng có nghĩa Phật giáo lúc bấy giờ chú hướng đến ngoại tướng và cầu phước báu nhiều hơn chiều sâu của con đường giải thoát.
Sau kỷ nguyên Bồ Đề Đạt Ma, chư tổ triển khai Thiền phái qua nhiều dạng thức: Tổ sư thiền - khẩu đầu thiền – công án – đại thừa thiền – tối thượng thừa thiền – phản văn văn tự tánh – nhĩ căn viên thông, một số giòng phái như Liễu Quán, Thiên Thai, Trúc Lâm, Thảo Đường… và hiện nay có “Tri vọng chỉ vọng” – “Hiện pháp lạc trú” của những Thiền sư đương đại. Một số cố chấp kinh văn, xem những loại Thiền tự phát đều là ngoại giáo, bởi lẽ không có sự miên tục bắt nguồn từ khởi thủy nhưng quên rằng: Thế gian pháp tức Phật pháp – vô lượng pháp môn tu. Nghĩa là bất cứ pháp môn nào hiện tại, đưa hành giả đến an lạc – trí tuệ và lòng từ phát triển đều là chánh pháp. Giáo lý Bắc truyền linh động uyển chuyển tùy đối cơ mà sanh pháp. Nếu chỉ duy nhất “Minh sát tuệ” thì làm gì có “Tu Bụi” ra đời làm gì có trạng thái “Thỏng tay vào chợ” !
Tự Tánh Di Đà: Tiểu bộ kinh Đi Đà định danh rất rõ về thể tánh của Đức A Di Đà: Vô Lượng Thọ - Vô Lượng Quang; Một đức Phật tín ngưỡng, tâm linh và pháp tánh, đương vi giáo chủ một cỏi Tịnh lý tưởng cũng thuộc phạm vi tín ngưỡng, làm điểm tựa cho niềm tin quảng đại quần chúng. Thế nhưng, lý tánh của A Di Đà vẫn biểu thị tự tánh trong mỗi chúng sanh, đó là tự tánh hay còn gọi là Pháp thân Vô Lượng Thọ - Vô Lượng Quang. Tử Thư Tây Tạng đi sâu vào chi tiết qua từng trạng thái cỏi trung giới khi mà thần thức chưa quyết định việc tái sanh. Một vị thầy hướng dẫn linh thức trãi qua những kinh nghiệm về bardo, cho đến khi linh thức rơi vào tình trạng vô thức, bấy giờ ánh quang minh tự tánh xuất hiện. Có nghĩa trong mọi linh thức đều ẩn tàng ánh sáng chơn như. Tùy ánh sáng trong đục, mờ tỏ mà thần thức đầu thai vào cảnh giới đó. Ai Cập cũng có nói về Tử Thư, nhưng không chuyên sâu như Tạng Thư. Bằnh kinh nghiệm và kỷ thuật hướng linh, một Guru có thể chuyển linh thức vượt thoát Tam giới.
1/ Hiện tượng lâm sàng: Y khoa ngày nay không còn lạ về hiện tượng chết lâm sàng. Người chuyên môn ngành y bảo đó là trạng thái giữa sống và chết. Trạng thái lâm sàng như thế, có thể vài giờ, vài ngày, thỉnh thoảng có những trường hơp hy hữu, người chết nhiều năm sống lại, trạng thái đó coi là hôn mê. Thường những cảnh trạng như thế người ta đo thân nhiệt, xác định điện tâm đồ ngưng họat động, riêng điện não đồ còn chút dấu hiệu yếu ớt chập chờn. Quyết định cuối cùng của y học, xác định một người thật sự chết là lúc toàn bộ cơ năng không còn hoạt động. Nhưng khoa học vẫn chưa giải thích được một người chết lâm sàng, sau khi sống lại, diễn tả những cảnh tượng khi thần thức lìa khỏi xác; có thể họ bảo đó là trạng thái ảo giác mà người chết nhìn thấy từ thế giới bên kia, nhưng làm sao giải thích cái thấy của nạn nhân những hoạt cảnh trong bệnh viện, nơi thân thể nạn nhân đang nằm, các y bác sĩ và những gì diễn ra chung quanh lúc nạn nhân vẫn còn hôn mê. Khoa học chưa giải thích được mặc dù hiện tượng chết lâm sàng đã có từ ngàn xưa. Về lãnh vực tâm linh, nhất là đối với tôn giáo cổ Ai cập cũng như Tây Tạng, chúng không phải là vấn đề xa lạ thiếu kiểm soát. Điều chúng ta muốn đề cập đến không phải vấn đề hồi sinh hay hồi dương, mà là trạng thức khi thần khí ra khỏi xác.
2/ Ánh sáng cuối đường hầm: Một số trường hợp chết lâm sàng, thường thấy mình chui qua đường hầm hẹp và tối đen, sau đó bềnh bồng trong không gian mênh mông hoặc vụt đi với một tốc độ kinh hãi không thấy đâu bờ bến. Một số vừa thoát khỏi đường hầm, gặp những người thân quen đã chết trước hoặc gặp cảnh trí tươi mát thanh thản. Cũng có người vừa thoát con đuòng hầm hẹp tăm tối, ra đến vùng sáng chói chang hoặc êm dịu. Những dạng hồi sinh như thế đều bị tác động tâm lý và thay đổi tính tình, cư xử tốt hơn, cuộc sống an phận và đạo đức hơn. Nơi đây, chú ý đến hai dạng hồi sinh, một, qua vùng tăm tối, gặp cảnh vật hoặc người thân quen, sống lại sẽ biết chan hòa hơn, hướng nội và có đức tin thầm lặng. Dạng khác, người hồi sinh sẽ phát kiến nhiều hiểu biết hơn, trí tuệ khác thường hoặc có năng khiếu đặc biệt nếu không rút mình vào ốc đảo tự thân để chiêm nghiệm thể nghiệm tâm linh sau khi trở lại từ vùng ánh sáng.
Dĩ nhiên một linh thức mang nặng ác nghiệp, khi xuất ra khỏi thân thể, khó mà nhận được ánh sáng ngay. Nghĩa là ánh sáng tự tâm bị ác nghiệp che khuất, vì trường năng lượng nhuốm màu ô trược đen tối bao phủ. Ánh sáng tâm thức tỏa sáng được gọi là hào quang. Ánh sáng đó, trường năng lượng đó mang điện tích âm, được duy trì bởi một phần tâm thức mà tín ngưỡng nhân gian gọi là vía, đây không phải là linh hồn. Thần thức gồm cả vía và phách. Vía nằm giữa Thần và Phách, Phách là âm tính của Thức. Đây là cái nhìn của Đạo học. Riêng Phật giáo, không chủ hướng đến Phách và Vía. Thần khí là dạng năng lượng của tâm thức. Tâm thức tồn tại thì sự sống tồn tại, sự sống tồn tại nhờ năng lượng vật chất sản sanh huyết và khí. Huyết là dạng vật chất thô, Khí là dạng năng lượng vi tế. Khí sung thì Thần mãn, Thần khí sung túc thì trí tuệ phát sinh. Năng lượng có hai dạng, một, từ vật chất phát sanh, hai từ năng lượng ngoại biên hỗ trợ tác thành. Do tiếp nhận và tiêu hóa vật chất trược thì sản sanh năng lượng ô trược, khó tiến hóa, có khuynh hướng xấu. Tiếp nhận và tiêu hóa vật chất thanh như thực vật dương tính thì thanh khí phát triển, tâm hồn trong sáng, có khuynh hướng đạo đức và lòng từ ái dồi dào. Tuy nhiên, tâm chủ đạo, nếu được rèn luyện hoặc tu tập, tâm có thể tác động đến khí huyết, phát sanh một trường năng lượng trong sáng, tột đỉnh của trường năng lượng sinh học của chư Phật, chư Thánh là trí tuệ phát quang. Đạo gia chú trọng luyện tinh để hóa Khí, luyện Khí để hóa Thần, luyện Thần để huờn Hư, Hư đây là chân tánh, là Tuệ tri. Ánh sáng của trí tuệ và ánh sáng của năng lượng sinh học khác nhau. Ánh sáng bức xạ của trường năng lượng vật chất thuộc loại vô cơ. Ánh sáng tâm thức hay năng lượng nghiệp thức thuộc loại hữu cơ. Thần thức lìa khỏi xác dù tạm thời hay vĩnh viễn đều mang theo năng lượng hữu cơ và vô cơ. Năng lượng vô cơ tồn tại trong một thời gian ngắn nếu thân xác có thể hồi sinh. Khi thân xác hoàn toàn mất sự liên kết với thần thức thì năng lượng vô cơ chan hòa vào vũ trụ, năng lượng hữu cơ tiếp tục đi theo sự dẫn dắt của nghiệp lực đối với một thần thức bình thường. Năng lượng hữu cơ của một bậc cực thiện sẽ là tuệ giác. Ánh sáng trí tuệ đó tồn tại vĩnh viễn, phủ trùm khắp không biên giới. Chư Phật, chư Bồ Tát Thánh Tăng là ánh sáng tuyệt đối của một tâm thức toàn giác. Đó là Pháp thân Vô Lượng Quang.
Yoga, Tiên gia, Đạo học, huyền linh thần bí học, Cao Đài Tiên giáo và những phép luyện công đều tiến đến đẳng cấp thăng hoa tâm linh. Bởi Đạo Học Đông phương quan niệm “Nhất Bản tán vạn thù” theo thuật ngữ Phật giáo khởi niệm “vô minh sanh ra vạn pháp”, nghĩa là từ một gốc mà sanh ra vạn loại, muốn quy về nguồn cội, “vạn thù phải quy nhất bản”, tức là vạn pháp khởi xuất từ vô minh, phải quy về vô minh để hóa giải vạn pháp. Nhưng khi quy về “Nhất Bản” rồi thì “Nhất quy hà xứ”? Cái một sẽ về đâu? Đây là vấn đề mà hầu hết các bộ môn huyền linh tâm pháp cố gắng lập thành từng bước hóa giải. Đạo gia dụng tâm chuyển hóa kinh mạch lạc, bằng cách luyện đơn, kết Thánh thai với phương thưc phổ dụng là “Thủy hỏa ký tế” hoặc “Tiểu châu Thiên” hòa nhập với “Đại châu Thiên”; Yoga cũng kết hợp âm dương như khí công. Cổ thư Bà La Môn giáo tương thích là Atman và Bhraman. Tiểu ngã trở về hòa hợp với Đại ngã. Dĩ nhiên bộ phái như thế đều có pháp hành và quá trình trãi nghiệm cùng thể nghiệm. Trong khi đó, Kito giáo phổ truyền thì sau khi lìa đời, trở về hầu cạnh chúa nơi Thiên quốc mà không trao cho tín hữu chìa khóa của bí pháp rèn luyện thân tâm, hoặc kết hợp cùng Chúa làm một. Tuy nhiên, một số rất ít Giám mục tiếp cận được bí pháp bế quan để hòa nhập cùng Thánh thể là chuyện ngoại lệ do có duyên gặp những bí pháp từ các chân sư trao truyền. Yoga từ Hatha cho đến Raja trãi qua 11 cấp, nghĩa là từ loại thể dục đến hoạt dụng tâm linh đưa đến giải thoát đều theo một chuẩn mực nhất định, chuyển hóa thể chất đến tâm linh một cách nhịp nhàng:
1- HathaYoga.
2- KarmaYoga.
3- JnanaYoga.
4- BhaktiYoga.
5- LayaYoga.
6- MantraYoga.
7- KriyaYoga.
8- ShivaYoga.
9- YantraYoga.
10- MudraYoga.
11- RajaYoga
Điểm gặp gỡ chung giữa các pháp thuật của Tôn giáo Phương Đông như Lão gia, Tiên Thiên Đại Đạo, một bộ phận của Yoga và mật pháp Ấn Tạng, đều lấy nội thể làm đối tượng tu luyện.
Những pháp cổ, truyền thống dùng Tam bửu nội thân (Tinh-Khí-Thần) để thăng tiến, thì vài thập niên của tiền bán thế kỷ 20, một số pháp môn được cải biên hoặc sáng tạo để đưa hành giả đến trình độ xuất hồn, đây không phải là pháp tối thắng để giải thoát, chỉ đáp ứng tính hiếu kỳ như một trò chơi tâm linh trong cỏi tam giới. Lục tự Di Đà là hồng danh của giáo chủ Tịnh Độ, thế mà vẫn có tông pháp kết hợp giữa Lục tự để luân chuyển qua các đại huyệt châu thân, họ gọi là “Pháp luân thường chuyển”, tuy vậy, vẫn có vị đắc pháp, phát huệ với pháp hành nầy. Thuật ngữ Yoga gọi các đại huyệt đó là luân xa (chakra). Võ thuật – y học Trung hoa gọi là đại huyệt. Những đám rối thái dương nầy có công năng thu – phát năng lượng để nuôi cơ thể, đạo thuật dùng nó để thăng tiến tâm linh. Luồng chơn khí luân lưu từ mạch nhâm qua mạch đốc vận sinh lực chạy dọc xương sống nuôi trí não. Các pháp thuật cũng dùng nguồn sinh lực đó chạy ngược từ luân xa 7 vòng xuống để xuất ra yết hầu hoặc kích thích kundalini bò theo cột sống khai mở huyệt bách hội thông qua tuyến tùng. Những vận hành pháp thuật đều có kết quả nhất định, nhất là chữa được bệnh thân và đem lại sức khỏe dồi dào, thế nhưng, theo nhà Phật, vẫn chưa thoát khỏi tam giới. Có những vị học lóm pháp thuật Đạo gia, lạm dụng “Khí Hải”, không biết chuyển hóa, lâu ngày tích khí phát cuồng dâm nộ, luôn hoang tưởng đạt được Thánh quả, hàng đêm lên cỏi trời học pháp rồi đem xuống dạy cho trần gian, ai cũng biết đó là ma giới.
Tóm lại, cho dù bất cứ pháp hành nào cũng có một sở chứng nhất định trong cỏi tam giới, đều mang thân ánh sáng của cảnh giới đắc pháp đó, loại ánh sáng như thế chưa phải Pháp thân thanh tịnh Vô lượng quang mà chỉ là vòng hào quang của năng lượng sinh học được nâng cấp. Cái tương thích giữa Yoga và Phật giáo trong quá trình tu dưỡng đều “phục vụ vô ngã” lợi tha và tự tâm phải diệt ngã. Tuyệt đỉnh Yoga là hòa nhập với Chân ngã, như một loại chân như Phật tánh. Vậy tiến trình chuyển hóa của Tự Tánh Di Đà là gì?
Theo Mật giáo, A Di Đà là mật chú AMITA, Trí tánh của ngũ bộ Phật:
Tỳ Lô Giá Na Phật - A Súc Bệ Phật – Bảo Sanh Phật – A Di Đà Phật – Bất Không Thành Tựu Phật. Đã là Trí tánh phải là ánh quang minh vĩnh hằng không giới hạn nên gọi là Vô Lượng Quang.
“Khi Đức Pháp Tạng Tỳ kheo đang hành trì tu tập, muốn thiết lập cõi Tịnh như chư Phật mười phương, xin thầy (Đức Thế Tự Tại Như Lai) chỉ giáo và hiện tướng 210 ức Phật độ, từ đó, ngài Pháp Tạng phát nguyện sẽ xây dựng một cảnh Tịnh Độ như chư Phật để giáo hóa hỗ trợ chúng sanh liễu sanh thoát tử, nương vào y báo của Ngài mà tiến tu đạo nghiệp giải thoát.”
Tạng là kho chứa, Pháp hữu vi lẫn vô vi là tâm hành. Hạnh nguyện tục đế để chuyển hướng đến chơn đế đều do tâm hành. Khác nhau tâm hành tục đế bị vô thường hoại diệt. Tâm hành chơn đế của bậc đại giác thoát khỏi vọng tưởng, mọi hiện tướng có công năng duy trì miên tục, vì thế ngoài Vô Lượng Quang còn là Vô Lượng Thọ. Một hành giả trong quá trình chuyển hóa ý thứ c- mạt na thức- a lại da thức- và năm thức trở thành: - Diệu Quan sát Trí – Bình đẳng tánh trí – Đại viên cảnh trí và Thành sở tác trí, là những diệu dụng để phổ hóa chúng sanh của một A la Hán, một Bồ Tát, một vị Phật. Hỷ-nộ-ái-ố-ai-lạc-dục được chuyển hóa thành bảy loại quý tính như sen mọc từ bùn nhơ. Thất giác chi phần là những vòng đai bảy lớp lưới giăng cây quý, không những biểu thị cảnh giới của Phật mà còn là cảnh giới của tâm thanh tịnh giải thoát hoàn toàn. Chấn động lực của tâm thức thanh khiết là sóng âm trang trí nhạc điểu. Một cõi Tịnh Vô Lượng Quang như thế đều được chư Phật mười phương tán dương hoan hỷ, cũng có nghĩa tâm giải thoát hoàn toàn thì vạn vật muôn loài trong không gian đều mang sắc màu tươi nhuận giải thoát. Vì vậy “Nhất thiết duy tâm tạo” trong cảnh giới huyền môn của Hoa Nghiêm xác định được “nhất đa tương dung” để minh chứng cảnh cực lạc có đủ mọi hiện tướng cõi tục nhưng bản chất phi tục khi ánh sáng tâm thức được chuyển hóa phủ trùm vô tuyến tính. Vậy hiểu thế nào khi Phật giáo không chấp nhận một linh hồn tồn tại? Cái gì hòa nhập với cõi Tịnh độ?
1/ Phải chăng có một linh hồn ? Khoa học ngày nay cũng như một số quan điểm thế tục đều chấp nhận một linh hồn trường cửu sau khi lìa khỏi xác. Phật giáo không thừa nhận như thế, nhưng tập khí nghiệp lực là một dạng sóng giao động. BS Camille Flammarion sau 60 năm nghiên cứu qua 4.800 bức thư, dùng pháp thực chứng khoa học, kết luận rằng ngoài xác thân còn có phần hồn mà mắt thường không nhìn thấy, ngoại trừ tần sóng giao động của người chết có cùng tần số giao động của người sống như các nhà ngoại cảm, họ mới thấy hoặc cảm nhận sự hiện hữu của thế giới vô hình. Tuy sự tồn tại hoàn toàn khác với thế giới vật chất, nhưng họ có khả năng tác động lên tâm thức của người sống để chúng ta cảm nhận được sự hiện hữu của họ sau khi thân xác đã chết.
Ánh sáng của một sinh động vật nói chung và của con người nói riêng, biểu lộ ra bên ngoài quanh thân thể, mang nhiều thông tin của sức khỏe và bệnh hoạn trong ngũ tạng. Cọng hưởng với tâm thức cho màu sáng tối thanh đục tùy tâm thức khởi niệm. Huyền bí học phương Tây gọi là thể phách. Khoa học gia người Nga, Semyon Kirlian chụp được phim, đặt tên là Bioplasmic energy. Nó lưu giữ những ký ức những tư tưởng của đương sự. Đông phương huyền học gọi nó là ngoại Khí, ngày nay gọi là năng lượng sinh học ngoại biên. Như thế, nó không phải là linh hồn, từ việc chẩn đoán bệnh qua ánh sáng đó, thầy thuốc chữa bằng y dược hoặc trường sinh học chữa bằng Nhân điện; cách chữa đó đã điều chỉnh, bổ sung từ trường nội tạng. Khác nhau cách chữa của Đông y là dùng dược liệu kết hợp ngũ hành âm dương trong thang thuốc Quân-Thần-Tá-Sứ. Trường sinh học nhân điện chữa theo khu vực trách nhiệm nội tạng. Mỗi đại huyệt phụ trách một cơ phận, ví dụ luân xa ba phụ trách vùng bụng, luân xa hai chịu tác động thận… Dĩ nhiên Đông y Tây y, pháp thuật, tôn giáo mỗi lãnh vực có một quan niệm khác nhau về bệnh lý nên việc chữa trị cũng khác nhau; như thế thể xác và linh hồn không thể là một. Linh hồn nào chịu trách nhiệm về bệnh thân? Nếu bệnh thân tùy thuộc vào quyết định của linh hồn thì phải trực tiếp chữa linh hồn mà không phải chỉ duy nhất chữa bệnh thân! Linh hồn có sứ mạng gì với cơ thể con người? Khoa học thực dụng ngày nay, kể cả duy vật, không thể quyết đoán con người sống chỉ thuần vật chất và vật chất quyết định tất cả, nhưng khoa học vẫn chưa chứng minh sự hiện hữu của linh hồn mặc dù họ vẫn chấp nhận ngoài thể xác phải có một linh hồn. Họ mơ hồ hiểu rằng linh hồn là một dạng sóng có khả năng tồn tại biệt lập hoặc đôi khi tác động được thể chất của người sống nếu cùng tần số giao động.
Saint Augustine từng bảo: “Điều kỳ diệu xẩy ra không ngược với tự nhiên mà chỉ ngược với cái ta biết trong tự nhiên”.
Một linh hồn thuần túy là một linh hồn, có chức năng điều khiển sự sống của một động vật, thì mỗi sinh vật là một ốc đảo tự cô lập, không hề có sự liên hệ nghiệp thức lẫn nhau mà Phật giáo gọi là cộng nghiệp. Thực tế cho thấy sự hiện hữu gần hay xa đối với một sinh vật đều ít nhiều có tính tương tác cộng đồng. Sự tương tác như thế không thể có một linh hồn độc lập của một cá thể độc lập. Và một linh hồn được tạo dựng sẳn như một khối cố định thì linh hồn đó không có khả năng chuyển đổi cũng như không có khả năng chịu trách nhiệm với việc làm chính mình. Các nhà tâm linh huyền bí đều nhận thức rất rõ về nhân và quả của một sinh động vật qua trường lực ánh sáng. Trường lực đó có thể tăng hoặc giảm, có thể tồn tại hoặc hủy diệt tự thể mà không do tác động bởi ngoại lực, như thế không thể xem nó là một linh hồn tồn tại độc lập. Năng lượng sóng từ của một sinh vật, khoa học vật lý gọi là viba. Khoa học có cái nhìn tiến bộ hơn khi xác định cấu tạo con người không chỉ đơn thuần bằng phân tử. Trường năng lượng bao phủ mọi thể chất của mọi sinh vật. Tùy theo lưu hoạt nội tại mà trường năng lượng lưu xuất ra ngoại biên. Thực vật lưu hoạt hạn chế, động vật hạ đẳng lưu hoạt bất định, con người văn minh lưu hoạt năng động hơn con người bộ tộc cổ xưa, và người trí xuất phát từ trường khác hẳn người chậm phát triển. Cũng thế, hành giả chuyên chính và cao cấp thì trường lực cũng phát triển rộng hơn người không tu luyện. Màu sắc trường năng lượng thông tin cho biết đẳng cấp tâm linh của một người và từ đó, chúng có thể thay đổi thăng tiến hoặc thụt lùi. Cái mà khoa học gọi là thế giới vật chất tĩnh, thực ra là dạng năng lượng cô đặc, hào quang hay ánh sáng sinh học là dạng năng lượng vi tế, tất cả đều là sóng, hạt sóng và sợi sóng. Sự tiến bộ của khoa học chế tạo ra điện não đồ, điện tâm đồ, và xa hơn nữa là thiết bị đo từ trường con người gọi là superconducting Quantum Interference Device (Thiết bị giao thoa lượng tử siêu dẫn) nghĩa là khoa học chỉ đo được xung lực điện trường phát ra từ con người mà chưa biết rõ gì về một linh hồn. Nhận thức, hiểu biết không phải là một linh hồn, đó chỉ là cái dụng của một tâm thức. Tâm thức không là linh hồn, nó là kết tinh từ nhiều tập khí, tập khí không phải là linh hồn, nó là thói quen thâm nhập bởi vô minh vọng niệm… Nói đúng ra, bẹ chuối không phải là thân cây chuối.
BS Leonard Ravitz trường đại học tổng hợp William and May xác định trường năng lượng giao động theo tâm lý và nhận thức của mỗi người. Ông xác định thay đổi tư duy sẽ gây hiệu ứng tâm thể. Như vậy không thể có một linh hồn cố định bị tác động bởi bất cứ điều kiện nào. Bs Robert Becker cũng xác định hình thù và cường độ của hào quang con người thay đổi tùy thuộc tâm-sinh lý của con người.
Năm 1950, bs người Nga cũng tách bạch được yếu tính của trường năng lượng với cơ chế thể chất tĩnh: “trường năng lượng bioplasmic” gồm có ion-proton- và electron tự do khác biệt với trạng thái : rắn-dịch-khí và plasma của vật chất. Bioplasmic quá trình vận động chuyển hóa bởi hóa học trong té bào. Nhưng ông không nói đến sự liên hệ trực tiếp của chuyển đổi đó ảnh hưởng từ tâm thức, nói cách khác, có sự liên hệ chặt chẽ giữa tâm-sinh lý. (còn tiếp)
 MINH MẪN
 20/10/2011
TỰ  TÁNH  DI  ĐÀ  (3)
Khoa học và tâm linh , tuy song hành nhưng vẫn gặp nhau một điểm. Cái khởi đầu  của khoa học luôn là cái kết thúc của tâm linh. Tâm linh không diễn đạt quá trình tiến hoá của tâm thức thông qua thể chất bằng ngôn từ khoa học, cũng như khoa học không xử dụng thuật ngữ tâm linh để xác thực hiện tượng tâm thức mà họ gọi là linh hồn thông qua trường năng lượng sinh học. Khoa học truy cứu xác minh hiện tượng  tâm linh  trên cơ sở vật lý; Tâm linh tiến hóa trên trường năng lượng tự phát , độc lập và duy ý chí. Đó là những loại hình tiến hóa tâm linh thuộc huyền môn học của Ai Cập, Ấn Độ, Trung quốc Tây Tạng và một vài vùng Bắc Á chịu ảnh hưởng lẫn nhau.
2/ Sự tương quan giữa năng lượng sinh học và năng lượng tâm linh: Hình ảnh một Thái dương hệ, các hành tinh xoay quanh một định tinh như trái đất,  sao mộc, sao hỏa, sao thủy, sao thổ, sao kim, Hải vương  tinh, Thiên vương tinh…đối với mặt trời hay, có những  hành tinh cũng được xem là định tinh khi  một số tinh thể quay chung quanh chúng trong lúc chúng vẫn đang quay quanh trục Thái dương hệ. Những hiện tượng như thế, do lực tác động hỗ tương trường năng lượng của nhau mà duy trì một vị trí tương đối cố định. Người mẹ sinh ra con, duy trì con bằng tình thương ruột thịt, con cũng quyến luyến cha mẹ bằng tình thương máu mủ, đồng thời cháu chắt cũng được duy trì sự liên đới với bố mẹ và ông bà bằng lực vô hình của tình thương dưới dạng năng lượng tâm thức và tâm linh; Ngoại trừ một vài trường hợp ngoại lệ, con cháu lạc loài, đánh mất sợi giây vô hình ràng buộc huyết thống như những vì sao băng cắt đứt sự liên đới với hệ tinh vân. Cháu chắt nhiều đời vẫn còn mang gen di truyền của ông bà thông qua năng lượng sinh học. Năng lượng sinh học kết hợp với năng lượng tâm thức tạo thành mạng lưới tương tác nghiệp lực của nhau. Năng lượng sinh học là nền tảng để năng lượng tâm linh hoạt khởi, ngược lại, năng lương tâm linh có khả năng tác động và chuyển hóa năng lượng sinh học theo chiều hướng tốt hoặc xấu tùy theo khuynh hướng và tùy thuộc môi trường. Trong một xã hội quá thấp về kiến thức, về kinh tế thì tâm thức cũng chịu ảnh hưởng nền giáo dục cộng đồng bất cập. Sinh hoạt chính trị, kinh tế, giáo dục cao thì con người trong xã hội đó cũng được thăng hoa. Tuy nhiên, vẫn có một vài trường hợp cá biệt,  cá nhân không chịu tác động nhiều về nề nếp xã hội đó, vì thế không thiếu những thiên tài xuất chúng trong một môi trường không thích hợp. Và cũng không thiếu những thành phần bất hảo giữa nếp sống văn minh. Như vậy, sự tương tác năng lượng sinh học và năng lượng tâm thức còn tùy thuộc yếu tố biệt nghiệp. Nghiệp lực cá biệt của một đơn thể có năng lượng vượt trội trên mức bình thường, sẽ quyết định nhân thân của một cá thể đó trong một cộng đồng tương tác cộng nghiệp. Đến đây ta  xác định được có sự liên đới giữa tâm sinh lý trong một  cá thể, hay gọi là năng lượng sinh học và năng lượng sinh thức.
3/ Sự tương liên giữa năng lượng sinh thức và trường lực ngoại biên: Cá thể không chỉ tồn tại  độc lập trong trường lực vũ trụ mà còn tương liên giữa cá thể với cá thể, giữa cá thể với trường lực. Viba là dạng “sóng từ” dung môi và thẩm thấu, xuyên suốt mọi vật thể . Năng lượng sinh học, năng lượng địa sinh học, năng lượng tâm thức đều giao thoa và cân bằng. Một tác động năng lượng tâm thức cũng tác động đến năng lượng của những sinh thức khác, đem lại sực cân bằng tồn tại trong một không-thời gian nhất định mà ý thức hạn chế ngỡ là chắc thật. Sự cân bằng và tồn tại của hệ vũ trụ dưới cái nhìn của khoa học vật chất, chúng là dạng khối  kiến trúc bởi các nguyên tử, cũng thế, cơ thể con người là một cấu trúc vật lý thuần túy theo quy luật tự nhiên, từ cơ chế  tồn tại khách quan trong không gian ba chiều đó chúng phát tán bức xạ năng lượng sinh học đơn thuần qua nhãn quan của các nhà  khoa học từ thế kỷ 18 trở về trước chịu ảnh hưởng nhịp cơ học của Newton. Trong một góc cạnh của học thuyết Newton, mọi khối lượng tồn tại là có thật và tương tác năng lượng cho nhau là một hoạt cảnh tự nhiên, nhưng theo duy thức học, gọi đó là: “ do giả thuyết ngã pháp – hữu chủng chủng tướng chuyển -  Bỉ y thức sở biến”  phát khởi từ : “ Thử năng biến duy tam – Vị dị thục, tư lương – cập liễu biệt cảnh thức”. Sự tương liên của hiện tượng giới đó, cũng chỉ là vọng thức xuất khởi của  “đại mộng” đời người, tương tự giấc mộng Nam Kha  của thưở đông miên. Đây là quan điểm tuyệt đối của pháp giới dưới nhãn quan Duy thức học, chúng ta không luận đến,  sở dĩ nêu ra là muốn nói sự tồn tại những hiện tướng như thật  để rồi mỗi thời đại có một khám phá khác nhau của một khoa học gia về một hiện tượng chung tồn tại, hiện hữu qua vô số thời gian trong không gian đa chiều, từ nguyên tử, phân tử, sóng, hạt…tương lai cũng sẽ có thêm những phát kiến mới về bản chất của mọi hiện tượng do “bỉ y thức sở biến” chủ đạo. Cho dù cơ bản hạt, sóng, năng lượng, duy thức…cũng là nguyên tố giải trình sự tương tác, tương liên giữa năng lượng sinh học - năng lượng sinh thức. và năng lượng ngoại biên. Chỉ nhìn  hoạt dụng của hiện tượng trên căn bản nguyên tố thì con người cũng như mọi sinh vật đều là cổ máy vô hồn tồn tại theo nhịp cơ học vũ trụ của vật lý, không thể giải thích được hiện hữu của ánh sáng tâm linh và chủ lực của mọi thăng tiến. Con người không thể là hệ quả tất yếu của các nguyên tử , phân tử tác thành, nhìn góc độ tâm linh thì chính năng lượng sinh thức đã trình diễn những yếu tố cơ bản mà từ tâm thức, có thể bức xạ ra ngoại biên những sóng từ, làm thay đổi quan điểm duy vật của các nhà khoa học  trước kia. Thế giới chỉ thuần do điện âm và điện dương hấp lực nhau để tồn tại dạng cơ học thì môi trường để chúng cùng tồn tại từ đâu? Những thế kỷ cận đại khi James Clark Maxwell và các đồng nghiệp phát hiện những điện tích chịu tác động bởi trường lực bao quanh, từ đó, người ta hiểu về trường lực. Nhưng chưa hẳn từ trường chủ lực cho mọi tương tác khi vừa  phát hiện như  các nhà vật lý đã từng phát hiện  hạt cơ bản trước kia.
Đành rằng  từ trường là dung môi tác động năng lượng có khả năng chuyên chở thông tin  năng lượng sinh học và năng lượng sinh thức, như nước có khả năng dẫn điện; một chuyển động từ một điểm  trong nước, bên kia đại dương có thể tiếp nhận tín hiệu nếu có máy đo lường động lực học cực vi, cũng vậy, một tín hiệu phát ra từ một điểm trên mặt đất, sóng truyền có thể lan xa đến vô định mà ngày nay máy thu sóng âm chỉ giới hạn trên tinh cầu hoặc đến các vệ tinh, các phi thuyền không gian, từ đó điện thoại di động, truyền hình, morse được triển khai. Loại viba đó, cho dù gọi dưới bất cứ tên gì, sóng, hạt, trường năng lượng… đều có năng lực truyền tải thông tin đa chiều, từ năng lượng sinh học đến năng lượng sinh thức. trường lực đó, là một với năng lượng sinh thức hay là một biệt thể với những năng lượng cùng tồn tại với nhau? Đây là vấn đề chưa được tách bạch rõ ràng. Nhưng điều hiển nhiên là khả năng ngoại cảm của  con người có thể thấy biết, trực giác trước những vấn đề sắp xẩy đến hoặc xẩy ra trong quá khứ xa xưa., cảm giác bất an khi người thân ở xa đang lâm nạn…Đồng thời cảm xạ học có thể điều trị hoặc điều khiển khoảng cách không gian bằng năng lượng sinh thức.  Nếu xét trên quan điểm Duy thức học, tất cả cũng trên cơ sở : “ nhất thiết duy tâm tạo”. Tâm tác động thế nào để biết việc quá khứ, vị lai của vũ trụ học và cá thể học? Khoa học chưa lý giải được vấn đề nầy nếu đặt trên cơ sở vận hành của cơ học vật lý.
4//Ánh sáng sinh thức xuất phát từ đâu? Khoa học vật lý đã chụp được hình năng lượng sinh học ngoại biên của một sinh thể sống; đồng thời cũng chụp được vệt sáng khi thần thức một bệnh nhân vừa xuất khỏi xác. Vệt sáng mờ ảo kia chưa đủ định hình xác định là một linh hồn, khi năng lượng tĩnh thì vệt sáng mờ nhạt, nhưng năng lượng động bởi linh thức hoạt động thì hình ảnh vong được tái hiện như sương mù. Đồng thời kỷ sư F.Urgenson người Thụy Điển đã ghi được âm thanh trong vũ trụ từ 1959 đến 1964, xác định âm giọng các vong linh cao về thanh điệu lẫn cường lực. Sự tồn tại một vật thể siêu hình cả ánh sáng lẫn âm thanh trong trường năng lượng vi tế là điều hiển nhiên. Qua lãnh vực nầy, một linh thức không còn ý niệm hạn chế trong không gian đa chiều và thời gian quy ước, vì thế, những thể nghiệm và trãi nghiệm tâm linh, không thể giải thích thuần theo cơ học vật lý hay những phương tiện và điều kiện  của khoa học thực dụng. Mỗi cảnh giới sinh học thực tại có một ý niệm về không gian và thời gian riêng, thì cảnh giới siêu hình hay siêu thức cũng không tùy thuộc ý niệm thời gian không gian của hiện tại. Ngay cả thời gian cơ học hiện có, cũng chỉ có giá trị tương đối trong một trạng thái tâm lý cộng đồng bình ổn, riêng một cá thể  lạc vào trạng thái siêu thức, thời gian hiện thực lúc bấy giờ không còn giá trị, và không gian đa chiều không còn giá trị khi ẩn hiện một linh ảnh song hành với hiện thực mà chỉ có siêu thức của đương sự cảm nhận được. Thần kinh học, tâm lý học sẽ bảo đó là ảo giác của bệnh nhân, nhưng chắc chắn một hành giả chứng đắc hay một thiên phú đặc biệt sẽ chứng minh cho khoa học thấy điều đó nó hiện thực như sự hiện thực của cơ học vật lý. Không gian thời gian nầy được gọi là không – thời gian siêu thức, cũng được gọi là không- thời minh triết. Không-thời gian của cơ học vật lý thuộc vào lãnh vực trí não. Sang lãnh vực siêu thức không bị phán đoán bởi nhị nguyên phân chia cắt xén, nó là một dãi miên tục của cảm thức, khi hành giả đó đọc được thông tin của đời người trên đối tượng, mọi chi tiết cũng loạt khởi như nhìn vào tấm gương. Về khoa học thực dụng cũng thế, kiến thức và tri thức con người mỗi ngày một phát triển thì tầm nhìn và sự hiểu biết mỗi ngày một khác, nhưng nó vẫn bị hạn chế trong luật tương đối, chính vì thế  sự phát minh mới luôn phủ nhận  cái sáng kiến cũ, thậm chí  mang tính  đối kháng. Năm 1905, Albert Einstein tuyên bố lý thuyết tương đối làm đảo lộn quan điểm của Newton về thế giới trước kia. Phát minh khoa học hiện đại luôn xét lại quan điểm của phát minh khoa học quá khứ,  ví dụ khi khoa học ngày nay xác định trường năng lượng trong vũ trụ đóng vai trò hình thành khối chất, nói cách khác, hình khối là dạng năng lượng thô thì ánh sáng là  dạng năng lượng vi tế, đánh đổ học thuyết của Newton về cơ bản vật lý mệnh danh là cơ học Newton. Có cái nhìn trường năng lượng vũ trụ thì mới giải thích được tác động năng lực lẫn nhau trong không gian cho dù cách nhau một khoảng cách xa xôi. Vì vậy tương tác năng lượng giữa hai cá thể mà không cần sự hiện hữu của một dạng thể vật lý; một người vào căn phòng cảm nhận trước đây đã có sự hiện diện của ai đó trong phòng nầy . Cái mà thường được gọi là trực giác, linh cảm là do sự tương tác giữa năng lượng sinh thức với một năng lượng sinh thức thông qua trường năng lượng ngoại biên. Gặp một người, tuy chưa giao tiếp, cảm nhận kẻ đó xấu hay tốt là do sự tương tác năng lượng sinh thức tỏa ra trường lực chung quanh. Tính tương tác và tổng thể  hàm tàng trong mỗi cá thể, chính vì thế mà Bà La Môn giáo quan niệm cá thể là một tiểu ngã trong một đại ngã vũ trụ. Đạo gia cũng bảo con người là tiểu vũ trụ tồn tại trong đại vũ trụ. Vũ trụ có Tam bảo: Thiên-địa-nhân thì con người có : Tinh-khí-thần. Phật giáo nói tất cả chúng sanh đều có Phật tính. Phật tính là tính giác toàn cục. Chúng sinh có sẳn mầm mống tính giác cá thể, một khi cá thể giác ngộ, trí giác Như Lai đồng một thể với Như Lai tự tánh. Như Lai tự tánh đồng thể với ánh sáng đại bi, không bị hạn chế trong một thể tướng mà là thể tánh toàn bộ, một dạng năng lượng hằng hữu phủ trùm pháp giới.
Do quá trình vận động, trao đổi hạt, sóng qua dạng năng lượng sinh học, năng lượng sinh thức tiếp thu, ma sát, phát quang mà ta gọi là sáng kiến, trí tuệ, tác động tế bào hệ thần kinh. Hệ thần kinh được bảo dưỡng tinh khiết từ năng lượng sinh học đến vận động sinh thức, năng lượng sinh thức được nâng cấp và bức xạ những bước sóng ngắn với tầng số giao động thấp, giao thoa với năng lượng ngoại biên, phát tác ánh sáng  sinh thức mà ta gọi là hào quang. Ánh sáng của năng lượng sinh thức không là ánh sáng của năng lượng sinh học cơ lý.
Từ đâu năng lượng sinh thức phát quang? Không chỉ đơn thuần do trao đổi, ma sát hạt sóng trong tế bào não một cách tình cờ. Cồ nhân đã phát hiện nhiều phương thức đánh động năng lượng sinh học để tiếp chuyển qua năng lượng sinh thức bằng những pháp môn tu dưỡng, luyện đạo, giải trừ ô tạp vi tế từ cơ năng sinh lý đến toàn đồ tâm lý, vượt thoát tuyến tính nhị biên để TỰ TÁNH DI ĐÀ hiển lộ. Tự Tánh Di Đà trong mỗi cá thể hay Tự Tánh Di Đà trong một tổng thể vũ trụ là một hay khác, lần lượt ta xét đến từng giai đoạn tu tập của những pháp môn Thiền- Tịnh trong Phật giáo cũng như các tôn giáo, các pháp môn trong và ngoài Phật giáo.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).

No comments:

Post a Comment