Wednesday, 7 September 2011

Vài điều khuyên : Sơ tâm xuất gia
VÀI ĐIỀU KHUYÊN: SƠ TÂM XUẤT GIA
Chánh pháp không thể nào tồn tại nếu không có những vị tăng ni tài đức, thành tâm quay lòng trước thế tục, đầy lòng từ bi và trí huệ, được tất cả mọi người kính trọng. Những vị này chính là những “chuyên viên” Phật gia, dâng hiến trọn đời cho pháp học và pháp hành để tự độ và hoằng dương Phật đạo để độ sanh.
Khi mà một nhóm Phật gia nào đó không đủ những biểu trưng tốt về hành vi không vị kỷ của mình, khi ấy nhóm của họ không thể nào phát triển được, bởi chuyện thế gian thì đầy dẫy và hỗn độn, mà nếp sống cư sĩ tại gia thì lại khó mà có thể có nhiều thì giờ để tập thiền định và học hỏi giáo pháp. Cho nên chỉ có đời sống của người đã lìa bỏ ngôi nhà phiền não, những người xuất gia, làm tăng hay ni, ở trong đoàn thể Tăng già, mới có nhiều thì giờ để mà ứng dụng pháp hành và học tập phương cách an định dần dần những cơn phiền não thuộc tâm thần và tình cảm để đạt được giác kiến về Chân Lý của chánh pháp.

1. TRỞ THÀNH NGƯỜI PHẬT TỬ:
Có người nghĩ rằng đâu cần gì phải bắt đầu từ điểm này, vì một người nào đó muốn xuất gia thì quyết nhiên phải là một Phật tử rồi. Thật ra, không phải trường hợp nào cũng như thế cả. Bởi vì có nhiều người vẫn còn chấp giữ tà kiến của họ, chưa thật sự là một Phật tử chân chánh mà vẫn muốn được thọ giới. Vì vậy, vấn đề là, thế nào là một Phật tử? Phật tử là người nương tựa hoàn toàn tâm ý nơi Tam Bảo là ba ngôi cao quý nhất trong thế gian này.
- Phật Bảo: Đức Phật là bậc Thầy Giác Ngộ.
- Pháp Bảo: là con đường thực hành đưa đến Giác Ngộ.
- Tăng Bảo: là những bậc đã đạt được Giác Ngộ do tu tập đúng con đường ấy. Một Phật tử chánh tâm thành ý quy y ba ngôi Tam bảo để làm nơi nương tựa an lành không gì sánh bằng được trước những khổ đau triền miên vô cùng tận của thế gian; trước những khổ đau dồn dập và những sợ hãi về cuộc đời lẩn quẩn mãi trong vòng luân hồi của sanh, hoại, bệnh, chết; những đổi thay và không an toàn. Người Phật tử tìm về quy y nơi Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo là ba biểu hiện của Giác Ngộ để rồi, cuối cùng qua lòng chánh thành tu tập, sẽ tự mình cũng đạt được Giác Ngộ như thế. Nếu không học hiểu rõ ràng ý nghĩa thế nào là Tam bảo, thì không ai có thể quy y một cách chân thành. Và nếu không có được niềm tin vững chắc dựa trên sự thông hiểu thấu đáo này, thì không ai có thể thực hành đúng Chánh Pháp được và cũng không có thể tìm thấy được yếu chỉ cần thiết để nuôi dòng tâm chí cho hành giả trong cuộc đời xuất gia của mình.
Do đó mà không một chút luyến tiếc tất cả mọi tà kiến cá nhân của mình, những khái niệm thuộc tôn giáo hay thần linh không đúng cách, để phát nguyện rằng:
a. Con nguyện quay về nương tựa Phật Bảo, bậc Thầy Giác Ngộ.
b. Con nguyện quay về nương tựa Pháp Bảo, con đường thực hành đưa đến Giác Ngộ.
c. Con nguyện quay về nương tựa Tăng Bảo, đoàn thể những bậc đã đạt được Giác Ngộ do tu tập đúng theo con đường Chánh Pháp.

2. NHẬN THỨC RÕ RÀNG: TẠI SAO TÔI MUỐN XUẤT GIA?.
Sau khi đã quy y để trở thành một Phật tử (chơn chánh), người muốn xuất gia lại cần phải tự hỏi mình câu hỏi này (Tại sao tôi muốn xuất gia?), để nhận thức rõ ràng duyên cớ muốn được thọ giới của mình có chánh đáng hay không. Có nhiều nguời muốn xuất gia với những lý do sai lạc như: muốn học pháp thuật hay muốn có những bùa chú; muốn sống cuộc đời ăn không ngồi rồi; chạy trốn không dám gánh chịu những khó khăn trong đời sống cá nhân hay những trách nhiệm gia đình; muốn có danh lợi; tưởng đâu sẽ trở thành một bậc thầy giảng sư chỉ sau một vài tháng thọ giới; tưởng sẽ được cư sĩ Phật kính trọng như những bậc chơn tu lâu đời. Duyên cớ chơn chánh để được xuất gia là: muốn được sống một cuộc đời thanh tịnh đạo đức là con đường vượt thoát khỏi mọi phiền não thế gian, không phải bận rộn việc trần tục nữa để được có hoàn cảnh thuận tiện tu tập chánh pháp, dâng hiến trọn đời cho ba ngôi Tam Bảo.
Lý do bất chánh trốn những xáo trộn tâm lý như tham lam, kiêu mạn, sợ hãi. Còn lý do chơn chánh xuất phát từ những đặc tánh tốt đẹp như khước từ những danh lợi thế gian, ý thức được rằng đạo Phật là chơn lý, lòng mộ đạo và tánh khiêm cung. Đời sống xuất gia đòi hỏi phải học hiểu và tu tập không ngừng trong nhiều năm theo sự hướng dẫn của vị thầy tài đức. Chỉ khi nào người xuất gia đạt được kinh nghiệm thực chứng cho bản thân về chánh pháp, khi ấy mới có thể bắt đầu dạy dẫn cho kẻ khác được.
3. TỰ XÉT: TÔI CÓ THỂ SỐNG ĐỜI SỐNG TỊNH THÁNH MỘT CÁCH DANH DỰ KHÔNG?
Khi đã quyết chí nhất tâm xuất gia với những lý do chơn chánh rồi, ta lại còn phải tự hỏi mình có đủ khả năng để trì giữ giới luật hay không? Bất kỳ là giới nào mà mình đã thọ, cụ túc 250 giới, sa di 10 giới. Còn tu nữ phải thọ tới 348 giới và Bát Kỉnh Pháp nữa; đã thọ rồi thì phải gìn giữ giới luật cho trong sạch. Giới luật này là để giúp hành giả thực tập Chánh pháp: Tỳ nại da (Vinàya: giới luật) có nghĩa là những gì dẫn dắt hành giả ra khỏi những khổ đau của thế gian để đưa đến tâm an lạc và lòng thanh tịnh. Do đó, hành giả có thái độ đúng khi kiên quyết trì giữ một cách nghiêm cẩn những giới luật đã thọ, không phạm phá những điều luật khiến hành giả không được an tịnh trên bước đường tu hành.
Tự nỗ lực trì giữ cho trong sạch những giới luật này, hành giả trở nên vô cùng cẩn mật trong những hành vi thuộc ý nghĩ, lời nói và thân thể. Sự chú tâm hay tỉnh thức giữ giới cho thân khẩu ý được trong sạch này là điểm căn bản thiết yếu trong tiến trình tu hành, nếu mà điểm này không được hát triển trong cuộc đời xuất gia, hành giả sẽ bỏ cuộc trên đường tìm cầu chánh pháp. Người nào có thái độ đúng như trên đã nói thì thấu rõ giá trị của sự tỉnh thức này và luôn luôn tinh tấn thực hành trì giữ giới luật, nhưng mà dầu sao cũng không thể tránh khỏi lầm lỗi và sơ xuất. Khi hành giả phạm giới, thì cần phải sám hối ngay để cho tâm ý được an lạc, không còn mặc cảm tội lỗi nữa và thân khẩu ý nghiệp được thanh tịnh lại. Sau khi thọ giới, hành giả được đắp y là biểu trưng cho sự tinh tấn trong cuộc đời tịnh thánh và hoàn toàn quy y nơi Tam bảo. Người chơn chánh lúc nào cũng quyết tâm được xứng đáng với biểu trưng này.

4. QUYẾT ĐỊNH: SỬ DỤNG THÌ GIỜ RA SAO SAU KHI ĐÃ XUẤT GIA?
Một vị tỳ kheo được các Phật tử thuần tín chu cấp cúng dường tứ sự, và không phải đi làm việc với mục đích kiếm tiền. Do đó, người tu có trọn thì giờ cho chánh pháp, tu học và thực tập để xứng đáng được người thế cúng dường, chứ không phải ăn không ngồi rồi, phí uổng thì giờ. Để sống một cuộc đời có ích trong Tăng Đoàn, hành giả cần phải có căn rễ tốt trong chánh pháp.
Khi mà rễ yếu thì thân cây bị gió thổi gãy; cũng thế vị tỳ kheo nếu không có căn rễ tốt sẽ dễ mau giải y và hoàn tục. Căn rễ mà một hành giả cần phải có là học đi theo con đường pháp học (học giáo lý) và trì giữ giới luật trong một ngôi tự viện tại thành phố; hoặc là đi theo con đường pháp hành, tu tập thiền định trong rừng, sống cuộc đời đầu đà khổ hạnh, giới luật nghiêm minh và thực tập thiền quán. Hai con đường này, hành giả tùy căn cơ mà chọn một. Đường tu thứ nhứt (pháp học), hành giả cần phải có đủ khả năng để sắp xếp chương trình tu học cho riêng mình. Tại các nước Phật Giáo Nguyên Thủy Á Châu như Thái Lan, Tích Lan nay đã có các lớp dành riêng cho các tỳ kheo ngoại quốc.
Tuy nhiên, hành giả cũng cần phải giao tiếp thẳng với những vị Thầy bản xứ của mình. Ngoài tiếng nước đó, lại còn phải biết tiếng Phạn ngữ là ngôn ngữ truyền thống của Ngài. Mặc dù hiện nay đã có nhiều bản dịch bằng tiếng Anh ngữ về giáo pháp của Đức Phật nhưng những bản cũ thường không đáng tin cậy và có nhiều sai lạc. Bao giờ ta cũng có thể dịch lại cho đúng hơn những bản kinh này. Còn nếu mục đích của hành giả là hành thiền, thì chỉ cần biết tiếng nước đó và những thuật ngữ căn bản dùng trong Phật pháp là đủ.
Một vị tỳ kheo mới chắc sẽ được các bậc thầy chỉ dạy nhiều, nhưng vẫn còn rất nhiều thì giờ để tự học. Lại nữa, không có thời khoá biểu cứng đọng, do đó, hành giả phải biết tự kỷ luật lấy mình là điều rất quan trọng. Một vài Phật sự ấn định cho tỳ kheo phải làm trong một ngày là đi trì bát khất thực, một hay hai ba bữa ăn chấm dứt trước giờ ngọ buổi trưa, tụng kinh Pàli ngày một hay hai lần, lau quét nhà, làm vệ sinh và có thể là có lớp học Phật pháp hoặc nghe thầy giảng pháp vào buổi chiều hay buổi tối. Do vì giới đàn và thọ giới là một điều ít khi được có, người nam hay nữ nào mà có được nhân duyên vượt khỏi mọi chướng nạn để thọ giới phải nên xử dụng thì giờ của mình để tu học hay hành thiền một cách tinh tấn để đạt được nhiều lợi lạc.
5. Đoạn này hướng dẫn những người ngoại quốc muốn xuất gia tại Thái Lan. (Không cần thiết trong trường hợp người Việt Nam nên không chuyển ngữ)
6. NHỮNG ĐỨC TÁNH CẦN THIẾT CỦA MỘT VỊ TỲ KHEO.
Hành giả có thể thành công trong cuộc sống tịnh thánh nếu đã có sẵn, hoặc cố gắng phát triển, một vài đức tánh tốt. Ta đã đề cập đến lòng tín thành nơi Tam Bảo ở đoạn trên, thế nhưng, tuy là hành giả đã có đức tính này rồi, nhưng mà vẫn chưa đủ, vì nếu còn khắt khe dữ tợn, thì không trông mong gì được nơi y. Cho nên, đức từ bi trong hành động và lời nói là rất quan trọng. Người con Phật là một người hiền hòa và quan tâm không làm hại mọi sinh vật khác; nhất là người tu phải thể hiện sắc thái này. Cùng với lòng từ bi là tánh khiêm cung; bản chất dịu hiền của đức tánh này dễ được người chỉ dạy. Nếu hành giả cứ nghĩ là ta nay biết tất cả rồi - đấy chỉ là ngã mạn và cao ngạo - thì sẽ không bao giờ muốn được ai chỉ dạy điều gì cả. Lòng khiêm cung mở cửa tâm trí của hành giả để tiếp nhận thêm kiến thức, còn tánh ngã mạn thì đóng kín cửa đó lại. Đi đôi với khiêm cung là kiên nhẫn. Bởi vì chắc chắn là ta không thể thành tựu được những mục đích trong đời sống Tịnh Thánh trong một sớm một chiều, cho nên kiên nhẫn rất cần thiết cho đời sống này. Tâm trí ta đã bị ô nhiễm quá lâu rồi, ta cần rất nhiều thời gian để mà gội rửa và làm cho nó trong sạch trở lại. Mặc dầu là trong các bản kinh cổ xưa có ghi rằng nhiều người khi nghe đức Phật thuyết pháp rồi không bao lâu thì chứng quả A la hán. Nhưng ta cũng phải nhớ rằng các bản luận giải đã chú thích rằng thời gian không bao lâu đó có thể là dài đến mười hai năm! Kiên nhẫn cũng cần thiết để đối phó với những chướng ngại làm xáo trộn sự an hòa trên con đường Tịnh Thánh. Đức Phật rất thường hay tán thán đức tánh nào là cao thượng nhất.
Tinh tấn gắn liền với nhẫn nại. Nhẫn nại không thôi chưa đủ; tinh tấn cũng rất cần thiết, một sự tinh tấn trường kỳ chứ không phải từng cơn nhảy vọt với những lúc lui sụt biếng nhác chen vào giữa. Tinh tấn cần thiết để mà tự mình tu trì mọi phương diện của Phật đạo, để tự mình thay đổi từ những thể hiện tầm thường của thế gian để cho mọi hành động về thân, miệng và ý đều trở nên phù hợp với chánh pháp. Những đức tánh này đối lập với những tánh xấu tương đương; các tánh xấu chỉ đưa đến thêm nhiều khổ lụy trong lúc những đức tánh trước là căn bản để trưởng thành vững chắc trong chánh pháp.

7. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỜI SỐNG TỊNH THÁNH.
Ta có thể chia làm mục đích cấp thời và mục đích tối hậu. Mục đích cấp thời đúng theo Chánh pháp là để được trở thành một người tốt hơn do đóng mình vào khuôn khổ, lấy giới luật làm nơi nương tựa, hay là để tăng trưởng trí huệ, học hiểu chánh pháp là giáo lý của Đức Phật. Dẹp bỏ những rắm rối và khó khăn trong bản tánh của hành giả cũng là một mục đích mà ta có thể đạt được khi có tiến triển trên đường thiền tập. Dựa trên những mục đích cấp thời này và trình độ thực chứng, là sự chứng đắc Niết Bàn, tức mục đích tối hậu. Đức Phật thường hay nhắc nhở hành giả đã xuất gia không nên bao giờ bằng lòng với những mục đích thấp, mà phải luôn luôn tinh tấn để đạt được những mục đích cao thượng cho đến khi nào chứng đắc Niết Bàn mới thôi. Mục đích tối hậu này, ta không nên bao giờ quên lãng trong lúc còn tu tập hay đã ra hành đạo, bởi vì là lâu ngày rồi những căn trần rất dễ làm cho chúng ta quên đi. Mặc dù đã có con đường trực tiếp đưa đến Niết Bàn mau chóng, ta vẫn rất dễ dàng từ bỏ con đường đó để đi theo một ngõ ngách khác không đòi hỏi cần phải có sự cố gắng gì cả. Cố gắng đây là để chinh phục tánh dã dượi lười biếng và những tình trạng tâm lý uể oải biếng nhác khác; cố gắng cần thiết để chế ngự và gìn giữ những hành vi thuộc ba nghiệp của mình không cho rơi lọt vào những hoạt động xấu xa, từ đó mang đến an lạc cho những ai sống cuộc đời Tịnh Thánh, như là đức Phật đã dạy:
Tự mình khuyến khích mình
Tự mình chế ngự mình
Chánh niệm, tự hộ trì
Tỳ kheo sống an lạc.
(Kinh Pháp Cú- Phẩm Tỳ Kheo, kệ 379)
Nguyên tác: Sa môn Khantipalo
Việt dịch: Tắc Quy
Suorce: NHỮNG VỊ SƠ PHÁT TÂM XUẤT GIA (Hương Đạo)



THƯ CHO EM
Đèn quê hiu hắt đường xa
Chông chênh bến đợi ngày qua chạnh lòng!

1. Lâu lắm rồi anh em mình không cùng đi siêu thị phải không Lam? Có lẽ điều đó chú cũng chẳng đáng để chú bận tâm nhưng anh thấy lòng mình đau quá đỗi. Từ dạo ấy đến nay, anh rất muốn tìm lời khuyên chú nhưng trong thời buổi loạn lạc này liệu trong tâm hồn một chú Sa di có còn quý tiếc những lời dạy của lớp đàn anh hay là… một lối sống san bằng, bàng quan, chuyện ai nấy biết như chốn thị thành đã lan rộng trong chốn thiền môn. Có lúc anh muốn cùng chia sẻ với em như trách nhiệm của một người anh rồi lại thôi. Anh biết mình tu hành còn non kém, không đủ giới đức để chăm sóc một ai cho tử tế! Lâu lắm, từ khi bắt gặp em mua cánh bướm để tặng quý cô thì anh không còn muốn rủ em đi đâu nữa. Anh ngại mình phải thốn tim hơn một lần!
….chỉ nguyện ngày nào đó mình gặp nhau trên lộ trình về lại bến xưa. Thương em tôi rất nhiều! ( Ảnh: minh họa )
Ngày đó, sau khi chọn hết những vật dụng cần thiết em rủ anh đi cùng sang quầy lưu niệm. Một xác bướm chết khô được em mua về, em vô tư nói sẽ làm quà sinh nhật cho quý cô mà đâu biết đã cứa vào tim anh một nhát dao sâu thẳm. Anh đau cho cách nhìn ngây ngô của em, anh đau cho lối sống của tăng sĩ hiện tại và xót xa khi nhìn vào viễn cảnh Phật pháp trong tương lai. Một hành động của em thôi, đã nói lên rất nhiều. Một lời nói của huynh đệ thôi cũng đủ phản ánh hiện trạng đạo pháp đương thời. Anh nghĩ em cũng chẳng có nhân duyên đọc lá thư này vì anh viết đây như là trút bỏ làn gió cuốn đang cào cấu hư không. Có thể nếu đọc được em sẽ cho anh là người khéo suy nghĩ viễn vông, nhưng Lam ơi dẫu là viễn vông đi nữa cũng đâu thể thiếu đi cội nguồn của nó.
Nhìn thấy em cầm xác bướm trên tay với vẻ mặt đầy hí hửng anh thêm buồn. Một sinh linh nhỏ bé trút hơi theo định lực vô thường thiếu hẳn nơi em một lời cầu nguyện, nó biến thành trò chơi, thành thứ quà tặng xa xỉ đắt tiền. Anh rất muốn khuyên em nên cầu siêu cho nó, hơn là…
Người tu mình không thể thiếu hẳn lòng từ, đấy là lời đầu tiên anh muốn nói với em. Làm sao chúng ta có thể vui vẻ cho được khi cái xác bướm ấy thầm nhắc ta quán niệm về vô thường! Cái chết đâu chỉ dành riêng cho loài bướm, ngày nọ nó sẽ đến lấy đi mạng sống của mình. Ấy thế mà…
Anh hiểu phàm tăng như mình đều bước ra từ cõi người. Đã là con người làm sao mà không có trái tim biết rung động trước những nghiệp duyên then chốt kia chứ? Nhưng tình ái không thể là điểm tựa cho đôi cánh thiên nga đang quật tung sức gió, nó chỉ tạo nên đau thương và trói buộc. Nó là lưới bẫy giăng ra giữa hư không để đón bắt những trái tim kiêu hùng muốn vùng vẫy ra khỏi trời tam giới. Ngay trong kinh Nguyên thủy, đức Phật dạy người nam yêu mến người nữ và ngược lại bởi năm điều, trong đó có quà cáp. Có lý do gì để chúng ta vui thích khi chính mình hoàn toàn chưa đạt đến giải thoát? Đồng ý là chúng ta cần phải tạo thế cân bằng giữa định hướng và hiện thực. Nhưng không nên quá cao hứng mà phá hư đạo nghiệp của mình. Phật dạy: “Sinh khổ” trái lại chúng ta không sợ khổ mà lại tìm vui bằng cách tạo thêm nghiệp chướng, rốt cuộc khiến cho khổ đau lại chất chồng thêm đau khổ. Anh phân vân nếu chú điệu Ni đó nhận được món quà sinh nhật đó của em liệu có vui không?
Nếu có thì thật đáng thẹn biết dường nào! Vì đáng lẽ với Ni giới thì lòng từ bi phải đặt lên hàng đầu huống hồ đó là một sinh linh nhỏ bé! Vả lại mình đi tu rồi giả sử có chia sẻ cho nhau anh nghĩ chỉ là những gì liên quan đến Phật Pháp là hay nhất Lam à, chứ làm gì có chuyện bướm ong nơi chốn cửa thiền? Em làm anh xót xa quá đỗi. Sinh nhật không còn gì xa lạ đối với người tu, riết rồi đám cưới có mâm chay thì cứ dự… cuộc sống của một bậc xuất trần thượng sĩ như thế hơn kém người đời là bao?
Hay là chỉ chạy đua hơn nhau về vật chất rồi tự cho mình có phước lực? Chúng ta đang bòn rút tủy của ai để nuôi sống thân mạng này? Lam ơi! Anh muốn khuyên em một điều, nên cẩn trọng khi tiêu xài đồng tiền bát gạo của đàn na. Nhìn sâu hơn em đã vô tình lãng phí khiến thí chủ thiếu phước, họ không muốn em vui lòng mua lấy một xác bướm chết, họ sẽ nghĩ như thế nào khi em tặng quà ấy cho chú điệu Ni kia, sự phan duyên ấy đã nói lên điều gì?
2. Không chỉ riêng em mà thêm nhiều Tăng ni trẻ bốc đồng khác, nhiều lúc anh giật mình khi thấy họ vô ý gọi nhau bằng bạn, bằng chị em nghe như chọc thủng tim người. Lần nọ anh nghe sư cô nọ gọi đùa với chị bạn mình là “ Ông xã”. Anh vừa nghe qua đã bị nhói tim. Đó là hiện trang Phật pháp đang trên đà xuống dốc chỉ vì sự buông lơ của lớp trẻ kế thừa. Có ai đó đòi hô hào cải biến Phật giáo, làm mới lại ánh đạo vàng, bỏ đi Pháp bát kỉnh, đòi bình đẳng cho Ni giới mà quên mất hành động rồ dại của mình. Chính họ đã mở ra một cánh cửa rất mới để chào đón những luồng gió độc tràn vào thiêu rụi ngôi nhà Phật pháp. Đạo vốn như thị thì làm sao đổi mới? Chỉ có con người cần quay lại chuyển hóa tâm thức chứ thật bản nguyên họ là Phật đâu có chi phải thêm bớt đổi dời? Đòi bình đẳng mà không lãnh hội được yếu chỉ sai biệt, tức bình đẳng thì nào có giá trị gì? Làm sao tướng nam và nữ lại đồng nhau kia chứ? Con người ta chỉ có thể bình đẳng với nhau trên phương diện gieo nhân gặt quả thôi chứ đâu có chuyện gieo nhân sai biệt mà đòi kết quả giống nhau? Dù pháp thân vốn không sai biệt nhưng nghiệp lực của nam nữ bất đồng nên giới luật Phật chế ra có khác. Nếu không có Bát kỉnh pháp, sự qua lại giữa hai phía sẽ bị dẫn dắt đi về đâu? Cho nên, đó là hàng rào tự vệ vững chắc cho chư Ni. Chính nếp sống đua chen chạy theo thế hóa đã khiến chúng ta mất dần chánh kiến với những tâm tư chẳng hay. Dần dà chỉ vì muốn gửi thân nơi cửa Phật cho qua ngày đoạn tháng mà lãng xao đạo nghiệp, ngày một nuôi lớn thêm lòng kiêu mạn chẳng thể vâng theo lời Phậy dạy, không tự biết hổ thẹn lại phóng tâm ra đòi hỏi như người thế tục. Đã muốn đồng với người thế tục sao lại xuất gia? Thử hỏi ta đi tu để làm gì?
3. Có lần điệu Tuyên đi cúng với quý thầy, anh thật bất ngờ khi thấy chú ấy khoác nguyên một cái hậu vàng. Anh hỏi :
Sao chú lại không mang hậu lam?
Tuyên buông ra một câu trả lời làm anh đau nhói:
_ Chấp nhứt gì anh? Trước sao gì điệu cũng là thầy mà, hơn nữa em mặc màu này cho hòa với huynh đệ.
Cứ như thế, đi từ đám này sang nhà khác, ai cũng gọi chú bằng thầy. Nhưng anh hiểu Tuyên đang cần một khoảng chi nên chú mới làm thế. Nhìn sâu hơn anh rất đau lòng, tuổi nhỏ không biết kiệm đức thì làm gì có phước lực trang trải cho tương lai? Trái tim chú đã bị nhiễm độc mất rồi! Cái tâm ham lợi ấy muôn kiếp há dễ trừ? Rất may, những huynh đệ như Tuyên không nhiều.
Lần khác, chú Phúc cùng anh đi dự trai tăng. Thấy chú vẫn mặc cái hậu lam cũ nát. Anh hỏi:
_ Em không ngại à?
_ Có gì đâu anh, em vẫn còn kém phước mà. Hơn nữa mặc đúng hậu phục của mình em thấy tự tin hơn.
Nghe vậy, anh bùi ngùi xúc động. Nhớ lại, ngày xưa quý thầy Tỳ kheo ít hạ thầy bổn sư cũng không muốn cho đi dự trai tăng vì sợ tổn phước tu không được. Còn ngày nay, lá y Tỳ kheo sao dễ dàng đắp lên người và hầu như đám tiệc nào cũng đông như ngày hội. Một khi các chú tự tiện đắp y Tỳ kheo khi chưa thọ giới thì về sau được thọ giới lớn còn thiết tha gì? Như thế thì dẫu giới đàn trang nghiêm, giới sư thanh tịnh đi nữa cũng chẳng đắc giới. Lòng khiêm hạ của Tuyên đã biến mất, em không còn biết giới hạn của mình. Tuyên ơi, khi kể về em cho Lam nghe lòng anh càng thêm se thắt. Ai là người có trách nhiệm với các em?
4. Ít khi Minh lên phòng thầy Đạo chơi, nhiều lúc chú ấy cắm đầu vô máy tính chỉ lo chơi game thôi. Thầy Đạo rất buồn, vì là sư huynh nên có trách nhiệm khuyên chú, nhưng Minh vẫn không dứt khoát với những thú vui trên mạng. Chú đâu ngờ mình đang nuôi lớn dần một ảo ngã trong một trò chơi đầy bạo lực ấy. Làm sao chú Sa di nhỏ tuổi thực tập từ bi quán cho được khi cảm thấy thích thú khi giết được một người ảo trên mạng. Một cuộc phiêu lưu không còn là giả có. Tham, sân, si chưa trừ; phiền não còn trói buộc mà người sơ cơ như chú lại cứ huân thêm thì làm sao tránh được lỗi lầm? Chú nghĩ gì khi mình đang thỏa thích vô duyên khi người dân đang quần quật lao vào giành giựt từng giây, từng phút, đổ cả xương máu mình ra cho cuộc mưu sinh trôi nổi vơi đầy? Mỗi khi chú động tâm như thế thì làm sao có phước trải ra cho những người đã nhiệt thành cúng dường? Và còn rất nhiều cạm bẫy khác giăng ra mời gọi người tu mình trong luồng xoáy thông tin vũ bão. Chẳng có ai trả lời thay ta. Chẳng có ai đủ sức miễn dịch thế cho mình bằng hàng rào giới luật. Hàng ngày ta nhìn lại chính mình được mấy lần?
5. Nhật Lâm đi biển về mua tặng anh vài chai nước mắm. Chú ấy làm anh giật mình? Anh hỏi ra mới biết chú ấy nhờ người quen đi mua. May mà nó còn biết sĩ diện. Giận quá, anh la chú: “ Bộ thầy trò mày dắt nhau vào địa ngục hết hả? Lại còn kéo luôn cả anh?”. Lâm ấm ức không nói gì. Đợi anh nguôi đi nó mới bảo là tam tịnh nhục. Lam ơi. Em hiểu sao về việc này chứ anh thấy sở dĩ mình tu không được là do hay làm luật sư biện hộ cho chính mình đấy thôi. Phật chế tam tịnh nhục chẳng qua là phương tiện dứt trừ lòng tham muốn, trong đó chư Tỳ kheo hoàn toàn không có một chủ ý nào khác về nhu cầu dùng thức ăn mặn, lại mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Hơn nữa, rõ ràng các chú khoác lên mình manh áo Đại thừa, trong tương lai sẽ thọ Bồ tát giới. Đã gieo nhân Bồ tát, muốn tu thành Phật rồi sao còn ăn thịt chúng sanh? Nếu bảo đó là tam tịnh nhục, anh chỉ mong Nhật Lâm nhìn lại xem tâm mình có tịnh chưa? Còn Hạnh Lam nữa, anh hi vọng em đừng vấp phải những điều như chú ấy.
6. Một chiều trên đường về Đà Lạt, thấy anh xài điện thoại di động, một tín chủ hỏi:
_ Thầy cũng xài điện thoại nữa sao?
_ Có chứ?
_ Vậy ai quản lý được quý thầy?
_ Cô quên rằng trong nhà Phật có chế độ tự quản sao?

Nói như vậy, đâu có nghĩa là xong rồi phải không Lam? Việc ấy phải trả về cho anh em mình. Một phương trời thong dong chỉ có với những ai buông đi lòng phóng túng. Anh viết ra đây, những mẫu chuyện chưa đến hồi kết thúc, chẳng mong vạch lỗi trong Phật pháp làm gì, chỉ nguyện ngày nào đó mình gặp nhau trên lộ trình về lại bến xưa. Thương em tôi rất nhiều!
Chí ngu huynh


VIẾT THÊM CHO NGƯỜI XUẤT GIA TRẺ
Này người xuất gia trẻ, các em hãy lắng nghe tôi nói đây. Tôi biết có những người xuất gia trẻ hiện đang được sống trong một môi trường tu học thích ứng, được thầy thương yêu và tin cậy, được anh chị em đồng tu khuyến khích và nâng đỡ, được có cơ hội học hỏi và thực tập hàng ngày. Tuy nhiên số lượng những người may mắn ấy còn rất hiếm. Có thể đọc đến dòng chữ này em đang khóc. Tôi biết có rất nhiều học Tăng trẻ đang gặp nhiều khó khăn, kể cả những khó khăn về cơm áo. Tôi đã đi ngang qua những chặng đường như thế rồi, nên tôi hiểu họ.

NHỮNG KHÓ KHĂN
Xuất gia, sống trong chùa hay trong học viện, chúng ta cũng có thể có những khó khăn như sống trong gia đình. Nếu trong đời sống gia đình, ta có thể có vấn đề với cha mẹ hay anh chị em, thì sống trong chùa cũng thế. Em có thể đang có khó khăn với thầy em, và hai thầy trò đang khổ. Có thể em đang có cảm giác thầy em không thương em, không hiểu em, và có thể thầy em cũng đang nghĩ là em không có đủ tinh thần trách nhiệm, không chịu nghe lời thầy. Việc truyền thông giữa hai thầy trò đã trở nên khó khăn, và cả hai thầy trò đang không có hạnh phúc. Em nghĩ là đời sống ở chùa bận rộn quá, em phải làm nhiều việc quá, em không có thời giờ để học hỏi và tu tập, mà chính thầy em cũng không có thời giờ để học hỏi và tu tập. Em rất muốn được thầy em gửi em vào nội trú tại một học viện Phật học để em có thể để hết thì giờ vào việc tu học, nhưng vì chùa neo người, thầy em chưa cho em đi. Các vị thân sinh ra em có thể đã không muốn em đi tu. Họ nói gia đình đang cần em chống đỡ mà em lại bỏ đi tu. Các vị nghĩ rằng đi tu là bỏ bê gia đình, và em rất lấy làm khổ tâm. Người khác đi xuất gia thì được gia đình yểm trợ tinh thần, còn em thì không. Em có thể đang có vấn đề với sư anh, sư chị hay sư em của em. Em trách họ không hiểu em, nặng lời với em, kỳ thị em, mách những khuyết điểm của em với thầy để thầy không thương em... Những vấn đề như thế có bản chất giống hệt như những vấn đề ngoài đời. Em khổ. Và sự kiện em đang khổ là một thua thiệt lớn cho em, cho tôi, cho tất cả Tăng thân. Em khổ mà không chuyển hóa được cái khổ của em thì làm sao em đi trọn con đường tu học?
Có khi em bực mình nghĩ rằng hay là em nên ly khai Tăng thân, ra lập một cái am nhỏ, kiếm vài người bổn đạo yểm trợ tài chánh cho em, dù để trả tiền nhà, tiền ăn và tiền đi xe buýt, để em có thể đi học. Em tự bảo: học Phật pháp và sinh hoạt với Tăng đoàn là chuyện ta sẽ làm suốt đời, cần gì phải gấp gáp; bây giờ mình hãy lo học để đạt tới một trình độ văn hóa khá cao của thế học đã, rồi nghiên cứu Phật học sau cũng không muộn. Hơn nữa nếu có một cái bằng cấp tốt nghiệp đại học thì không những học Phật mau thành mà nói gì người ta cũng tin, tại vì mình đã đậu cử nhân, phó tiến sĩ hay tiến sĩ... Những tư tưởng như vậy làm em bất an, không an trú được trong nếp sống thường nhật. Những tư tưởng ấy lại rất tai hại, bởi vì chúng đang có thể kéo em ra khỏi con đường tu mà em không biết.
CON ĐƯỜNG THOÁT
Nếu em đang ở vào một hoàn cảnh có nhiều khó khăn, tôi muốn em đừng vội ly khai môi trường hiện tại, bỏ thầy bỏ chùa bỏ chúng mà đi nơi khác. Đừng đi vào dấu chân của những người đứng núi này trông núi nọ. Có thể em đang mơ ước được vào nội trú viện Phật học, nhưng cũng có thể một người khác đang nội trú trong viện Phật học lại mơ ước được ra ở chùa ngoài như em. Nếu em chưa tìm ra một giải pháp thỏa đáng thích hợp với những điều tôi cần căn dặn trong bài pháp thoại ngày 2-5-1996 thì em phải tìm tới tham vấn một vị thiện tri thức mà em tin cậy. Vị thiện tri thức này có thể là một thầy hay một sư cô có tuệ giác, có đức độ, có an lạc. Em hãy trình bày lên vị ấy tất cả những nỗi lòng và những sự thực về hoàn cảnh của em. Vị ấy sẽ chỉ cho em đường đi nước bước em cần phải theo. Nếu tôi được em tham vấn, tôi sẽ nói rằng em cần thực tập để thiết lập ngay lại sự truyền thông với thầy em và với huynh đệ em càng sớm càng tốt, em phải học hạnh đế thính (lắng nghe) và ái ngữ (ngôn từ hòa ái). Phải biết ngồi nghe một cách chăm chú, tĩnh lặng, phải học nghe với tâm không thành kiến, đừng tỏ vẻ nóng nảy, đừng có khuynh hướng phán xét và phản ứng; những năng lượng này một khi biểu hiện ra nét mặt, đôi mắt, hơi thở hay ra cử chỉ sẽ làm cho người nói không còn cảm hứng nói ra những điều người ấy muốn nói. Phải tập theo dõi hơi thở để giữ sự bình tĩnh trong lúc nghe, để tiếp thu những điều mình nghe, dù những điều đang nghe không phù hợp với nhận thức sẵn có của em về sự thật. Em phải tập nghe thầy và nghe huynh đệ em theo cách ấy, và khoảng một tháng sau, sự truyền thông (communication) sẽ được tái lập giữa em và những người ấy. Và khi em nói, em phải tập nói với ngôn từ hòa ái. Phải nói như thế nào để chứng tỏ mình đang bình tĩnh trình bày cho người kia thấy sự thật chứ không phải là mình đang nói để lộ sự bực dọc hay bất bình của mình. Tuyệt đối không trách móc. Em chỉ nói về những khó khăn những đau khổ của em thôi, và cầu xin sự giúp đỡ của người kia. Đế thính và ái ngữ là nội dung của giới thứ tư trong năm giới quý báu. Thực tập giới này em sẽ chuyển đổi được tình trạng và em có thể thuyết phục thầy và huynh đệ của em cùng góp sức chuyển hóa môi trường hiện thời thành một môi trường thích hợp hơn cho sự tu học, nghĩa là cho sự thực hiện lý tưởng cao đẹp của người xuất gia hảo tâm. Trong một viện Phật học, có thể cũng có những hiện tượng chống báng, phe phái, chia rẽ và kỳ thị. Nếu em là Tăng sinh trong viện Phật học, hoặc giả nếu em là một vị giáo thọ trẻ trong viện Phật học, em cũng phải thực tập như thế để dần dần chuyển hóa viện Phật học thành một môi trường thực sự thuận lợi cho sự thực hiện lý tưởng của người xuất gia. Tôi biết những lời tôi đang viết đây cũng sẽ được các vị sư trưởng của các chùa và các vị giáo thọ trong các viện Phật học đọc, và tôi tin chắc quý vị cũng đang thao thức như tôi và như em trong vấn đề chuyển hóa môi trường tu học cho môi trường ấy trở thành thuận lợi, và như thế mọi người trong ban giám hiệu, ban giáo thọ, cũng như tất cả các Tăng sinh sẽ có hạnh phúc nhiều hơn trong đời sống tu học hàng ngày. Hạnh phúc của em rất cần thiết cho tôi và cho tất cả mọi người, vì vậy em không có quyền tiếp tục đau khổ. Nếu em tiếp tục đau khổ, chúng tôi sẽ mất em. Đau khổ cần thiết cho tuệ giác nếu ta biết quán chiếu nó, nhìn sâu vào bản chất nó, để tìm lối ra. Vì vậy đau khổ là một thánh đế, nghĩa là một sự thật linh thiêng. Nhưng nếu ta tự để đắm chìm trong khổ đau mà không thấy được bản chất và con đường thoát khổ, thì đau khổ không còn là một thánh đế nữa.
ĂN CƠM CÓ CANH
Nhà sử học Anh, Arnold Toynbee có tiên đoán rằng sự gặp gỡ giữa đạo Bụt và văn minh phương Tây sẽ là một biến cố quan trọng nhất của thế kỷ tới. Tôi tin rằng từ cuộc gặp gỡ đó, một nền văn hóa mới cho nhân loại sẽ được khai sáng. Em phải chuẩn bị để đóng góp phần em vào biến chuyển lịch sử. Em phải áp dụng cho được giáo pháp của Đức Thế Tôn trong đời sống hàng ngày để chuyển hóa khổ đau của em và của Tăng thân em. Tăng thân là đoàn thể tu học của mình, gồm có thầy và các sư anh, sư chị, sư em của mình. Tăng thân cũng là một thứ thân thể của mình. Nếu mỗi người đều có Phật thân và Pháp thân của mình thì đoàn thể tu học của mình cũng tức là Tăng thân của mình. Phải hết lòng thực tập hơi thở và bước chân chánh niệm. Phải sống cho sâu sắc mỗi giây phút của đời sống hàng ngày. Phải biết tiếp xúc với những nhiệm mầu của sự sống trong em và chung quanh em trong từng giây từng phút. Phải tỉnh thức lại, phải thấy được trúc tím, hoa vàng, trăng trong và mây trắng là biểu hiện của Pháp thân mầu nhiệm. Phải sống cho được giáo lý hiện pháp lạc trú như thầy Tam Di Đề (Sammidhi), một vị xuất gia trẻ hồi thời của Bụt, rất được Bụt và Tăng đoàn thương mến. Thầy La Hầu La (Rahula) là người trẻ đầu tiên được gia nhập vào giáo đoàn xuất gia, và đã được thầy Xá Lợi Phất trao truyền mười giới Sa di. Thầy La Hầu La sau này đã thành công như một trong mười vị đệ tử lớn của But. Thầy A Nan (Ananda) cũng là một người xuất gia trẻ sống hạnh phúc đời sống xuất gia với một trái tim thương yêu trinh nguyên. Nhờ thông minh và trí nhớ phi thường của thầy mà biết bao nhiêu kinh điển của Bụt đã được lưu truyền lại. Thầy Ly Bà Đa (Revata) em út của thầy Xá Lợi Phất vì thấy được lẽ vô thường và biến hoại của mọi nhan sắc, nên đã xin đi xuất gia từ hồi còn niên thiếu. Thầy sống rất thoải mái và hạnh phúc nơi những vùng núi rừng thanh tịnh. Thầy Tu Bồ Đề (Subhuti) em trai của trưởng giả Cấp Cô Độc cũng là người niên thiếu xuất gia, được Bụt khen ngợi là thông suốt phép Từ quán và Bi quán. Cả hai đều nhìn vào gương tu tập của người anh. Thầy Tu Na Ka (Sonaka) phát tâm Bồ đề ngay sau khi được nghe bài thuyết pháp ở tu viện Trúc Lâm, đã phải nhịn ăn nhiều tuần lễ, thân thể ốm mòn, mới được phép cha mẹ cho đi xuất gia. Các thầy Bà Đề (Bhaddiya) và A Nậu Lâu Đà (Anurudha) đều là con trai dòng quý tộc, đã bỏ quyền hành và giàu sang để xuất gia theo Bụt, sống đời giải thoát. Sư cô Liên Hoa Sắc (Uppalavana) và Sư cô Thu Ba (Subha) đều là những thiếu nữ nổi tiếng sắc nước hương trời nhưng đã cắt bỏ mọi ân ái buộc ràng để trở nên người xuất gia, sống tu đạo với một quyết tâm ít ai bì kịp. Sư cô Tôn Đà Lợi Nan Đà (Sundarinanda) em cùng cha khác mẹ của Bụt, cũng đã đi xuất gia lúc chưa đầy hai mươi tuổi, và đã được Bụt khen là rất thành công trong công phu thiền tập... Các vị đều là những tấm gương sáng cho em.
Chúng ta không tu một mình. Chúng ta chỉ có thể tu với Tăng thân. Không sống, không tu học và làm việc với Tăng thân thì ta sẽ yếu lắm. Sống và tu học với Tăng thân ta được Tăng thân soi sáng và yểm trợ; đó thực sự là quy y Tăng. Quy y Tăng không phải chỉ là một đức tin mà là một sự thực tập hàng ngày. Nếu không quay về nương tựa Tăng, em sẽ đánh mất lý tưởng xuất gia đẹp đẽ của em trong một tương lai rất gần. Người Việt chúng ta đã có kinh nghiệm sâu sắc về tuệ giác này, cho nên chúng ta ai cũng biết câu "Ăn cơm có canh, tu hành có bạn".

GIA TÀI CỦA BỤT
Là người xuất gia, là những người con gần gũi nhất của Bụt, em phải biết thừa hưởng gia tài của Bụt. Phải thực tập cho được những pháp môn căn bản để có hạnh phúc. Phải nắm vững các pháp môn thiền tọa, thiền hành, quán niệm hơi thở, ăn cơm chánh niệm, quán chiếu vô thường, quán chiếu vô ngã, quán Từ, quán Bi, nhận diện và chuyển hóa khổ đau, xây dựng Tăng thân và làm hạnh phúc cho đời. Khi học kinh, nên luôn luôn tự hỏi: những tư tưởng này của kinh có dính líu gì tới đời sống hàng ngày của ta không, có giúp ta chuyển hóa khổ đau và tạo thành an lạc không? Cố nhiên là các kinh lớn như Kim Cang, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bảo Tích... chứa đựng nhiều tư tưởng siêu việt, nhưng mục đích học kinh không phải là để thưởng thức triết lý thâm uyên, lặp lại những tư tưởng ấy và đi tìm sự thỏa thích trong khi giãi bày những tư tưởng ấy. Phật pháp là chiếc bè đưa ta qua sông; em phải sử dụng được chiếc bè để qua tới bến bờ của chuyển hóa và an lạc. Mục đích của người xuất gia không phải là để trở thành một nhà Phật học hay nhà triết học, mà là trở thành một người an lạc, giải thoát, một vị đạo sư đích thực có khả năng độ đời. Cho nên em phải tránh con đường chất chứa kiến thức. Phải theo nguyên tắc thực học, thực tu, thực chứng. Em phải thấy được vô thường, vô ngã, từ, bi... là những dụng cụ quán chiếu để chuyển hóa khổ đau chứ không phải là những lý thuyết. Nếu em biết cách quán chiếu vô thường, vô ngã, từ và bi, em sẽ phá được những nhận thức sai lầm (vọng tưởng) của em trong đời sống hàng ngày, sẽ trở nên hiểu biết và bao dung hơn, và tình thương trong em càng ngày càng lớn. Có tình thương thì cuộc đời ta mới có hạnh phúc. Những người chỉ có trách móc và hận thù trong tâm là những người đau khổ. Chừng nào em thấy chất liệu của Từ và Bi lớn lên trong em, chừng nào em nhận thấy em đã bắt đầu biết nhìn người khác bằng con mắt từ bi (từ nhãn thị chúng sinh) không còn khắt khe, không còn oán trách, thì em biết lúc đó em đã bắt đầu có nhiều hạnh phúc. Đây là một chuyển hóa lớn của người tu. Tôi đã từng đi trên 30 quốc gia trên thế giới, tổ chức những khóa tu học cho người bản xứ. Có những khóa tu kéo dài được ba tuần, nhưng cũng có những khóa tu rất ngắn, chỉ kéo dài có bốn hôm. Ấy vậy mà có những thiền sinh và gia đình họ sau bốn ngày tu đã được chuyển hóa và đã tìm lại được sự tha thứ, thương yêu và hài hòa trong lòng họ và gia đình họ. Người xuất gia không nên quên rằng mình có cái may mắn là được thường trú trong khung cảnh tu học: nếu để tháng ngày đi qua mà không hạ thủ công phu thì uổng phí cuộc đời xuất gia của mình. Người nông phu sau khi thí nghiệm một loại hạt giống, một loại phân bón hoặc một phương pháp canh tác mới mà không thành công thì chắc chắn sẽ thay đổi hạt giống, phân bón hoặc phương pháp canh tác ấy. Chúng ta cũng vậy, nếu tu tập từ ba tới sáu tháng mà không thấy hoặc chưa thấy có chuyển hóa gì, ta phải biết là có một cái gì không đúng trong phương pháp tu học. Ta phải lập tức tìm thầy và bạn để tham vấn, tìm ra những pháp môn thích hợp và hữu hiệu cho ta. Tôi thấy có những người tu suốt mấy mươi năm mà nhận thức, cách sống và tập khí khổ đau vẫn không thay đổi. Thật là uổng phí cho họ và cho chính ta.
BẠN ĐỒNG HÀNH CỦA BỒ TÁT
Thực tập Từ và Bi cho đúng phép, một ngày nào đó em sẽ thấy năng lượng từ bi trong em đòi em phải thể hiện qua hành động. Từ và Bi không phải là những nguyên tắc sống, đó là những năng lượng đòi hỏi được biểu hiện cụ thể bằng sự sống. Có thể em là một người xuất gia muốn biểu lộ từ bi qua công tác cứu trợ người nghèo đói, chăm sóc cô nhi, người khuyết tật, hoặc phục vụ tại các nhà thương và nhà tù. Những công tác này là những bài thuyết pháp đích thực, nếu quả thực công tác của em được thúc đẩy bởi động lực thương yêu. Mỗi cử chỉ săn sóc người ốm đau, người tàn tật hay người nghèo khó có thể là một lời pháp ngữ hùng hồn. Dù vị pháp sư thuyết pháp hay nhưng nếu những lời vị ấy nói ra không phải là do năng lượng từ bi thúc đẩy thì bài pháp cũng chỉ là một công tác danh lợi, không phải là một bài thuyết pháp đích thực. Tôi không muốn sư cô và sư chú mải mê làm công tác xã hội mà quên mất mục đích thực sự của người xuất gia là tu tập để diệt trừ phiền não, chuyển hóa khổ đau. Em không nên để hết thì giờ vào việc xã hội. Phận sự của em không phải là bác sĩ, y tá hay cán sự xã hội. Em có thể phát nguyện làm việc mỗi tuần vài ba buổi tại các bệnh viện, trại giam hoặc nhà cô nhi, nhưng trong khi làm việc em phải làm cho thật có chánh niệm, luôn luôn trầm tĩnh, có đủ phong độ, uy nghi và không bao giờ đánh mất mình trong thất niệm. Nếu em biết theo dõi hơi thở và thực tập an trú trong giây phút hiện tại thì công tác giúp người của em cũng đồng thời là công phu tu tập, cũng quan trọng như thực tập ngồi thiền hoặc tụng kinh.
Tại các nước phát triển ở châu Âu và Bắc châu Mỹ, rất nhiều bệnh viện có thánh đường và thiền đường để cho bệnh nhân và những người thân của họ thực tập.
Có những giây phút bệnh nhân hoặc thân nhân của họ cần phải tĩnh tâm để cầu nguyện, như những lúc trước giờ giải phẫu, những lúc giải phẫu hay cấp cứu, những lúc chờ đợi hồi sinh... Thánh đường, niệm Phật đường hay thiền đường vì vậy rất cần thiết. Có những người xuất gia nguyện phục vụ trong ấy. Họ phải được học hỏi cách thức để có thể giúp người bệnh và thân nhân của họ đạt tới sự an tâm. Trong các nhà giam cũng vậy. Có những người tu được đào tạo để có thể phục vụ những người đang bị giam giữ. Căn bản tâm lý học và phương pháp an ủi và giải tỏa tâm lý rất cần thiết. Vào những nơi này để phục vụ, em sẽ có cảm tưởng là Bồ tát Địa Tạng cũng cùng đang đi bên em để đem lại sự bình yên cho tâm hồn những người trong ấy. Em phải làm công tác với tất cả trái tim em, vì em đang là một vị Bồ tát bạn đồng hành của Bồ tát Địa Tạng. Mà đã là Bồ tát thì giây phút nào cũng tập luyện tỉnh thức, đừng để công việc kéo đi, lọt vào thế giới của thất niệm. Chúng ta nói chúng ta thực tập từ bi mà nếu chúng ta không có mặt tại những nơi có khổ đau như nhà thương và trại giam thì đó là một điều khó hiểu. Tại nhiều nước phương Tây như Anh và Mỹ, sách của tôi viết được gửi vào các trại giam nhiều lắm, thỉnh thoảng những thành phần của chúng chủ trì dòng tu Tiếp Hiện cũng vào thăm viếng các tù nhân để ủy lạo và hướng dẫn thiền tập cho họ. Tôi đã nhận được rất nhiều thư cảm ơn của các độc giả trong tù. Nhiều vị nói trong tù họ thực tập tinh chuyên lắm, và tin tưởng nơi những phương pháp thực tập ấy, vì tâm hồn họ được an tĩnh và niềm tin của họ được hồi sinh. Các vị lãnh đạo Giáo hội, các bậc sư trưởng của em thế nào cũng phải can thiệp với các cấp chính quyền để tại mỗi bệnh viện và nhà giam sẽ được thiết lập một thiền đường, và can thiệp với các viện Phật học để chuẩn bị huấn luyện một số Tăng sinh sau này có thể phục vụ tại những nơi như thế.
PHẨM VẬT HIẾN TẶNG
Hiến tặng là hành động cao đẹp nhất của người tu. Phẩm vật hiến tặng có ba thứ: tài vật, pháp môn tu học và sự an vững của tâm hồn (tài thí, pháp thí và vô úy thí). Người xuất gia đâu có tài vật gì nhiều để hiến tặng. Chính nhờ đức độ và tình thương của ta mà thiên hạ đã tin cẩn và giao phó cho ta một ít tài vật của họ để làm công việc cứu trợ và ủy lạo. Pháp môn tu học mà ta đã từng thực tập và gặt hái kết quả là tặng phẩm rất quý của ta. Vì vậy nếu em có làm công tác xã hội thì đừng làm công tác xã hội suông, nghĩa là chỉ đóng vai trò của một tác viên xã hội. Vai trò của em là nhà tu. Vậy trong khi làm việc cứu tế em hãy tìm cách trao truyền cho người kia những phương pháp thực tập giúp họ vượt thoát khổ đau của họ. Em đừng nghĩ họ chỉ khổ đau vì thiếu cơm, thiếu áo, thiếu nhà ở, thiếu thuốc men. Họ đau khổ nhiều trong liên hệ giữa họ và những người quanh họ, họ đau khổ vì giận hờn, thất vọng mặc cảm, ganh ghét, xung đột v.v... Em đừng sợ bị mang tiếng là lợi dụng công tác xã hội để truyền đạo. Em có thể dùng ngôn từ không tôn giáo để giúp họ tháo gỡ những cái kẹt của họ. Phép thở, phép buông thư, phép lắng nghe, phép ái ngữ... ngoài đời người ta cũng dạy, cũng đọc, trong các tôn giáo khác cũng vậy. Pháp thí là bảo vật rất quý của người tu, đem hiến tặng hoài mà không bao giờ hao hụt. Vô úy thí là tặng phẩm thứ ba, đó là sự vững chãi, sự thảnh thơi và tuệ giác của em. Nếu em tu tập thành công thì càng ngày em càng vững chãi, càng ngày em càng có tự do nhiều hơn. Tự do ở đây là tự do tâm linh. Em không bị sai sử và ràng buộc bởi bất cứ một tâm hành bất thiện nào: sự lo lắng, sự sợ hãi, sự hận thù, sự thèm khát, sự ganh ghét... Quán chiếu về vô sinh, em không còn sợ hãi, dù là cái chết. Ngồi bên giường người hấp hối, sự vững chãi và thảnh thơi của em giúp cho người đang hấp hối an tâm trở lại và thực tập chánh niệm cho đến giờ phút qua đời. Sự có mặt của em gây niềm tự tin và sự không sợ hãi. Đó là tại vì em có chất liệu vô úy, vững chãi và thảnh thơi nơi em. Tôi có những người học trò rất giỏi về việc thực tập nâng đỡ người hấp hối. Ví dụ như giáo thọ Chân Tiếp. Chị Chân Tiếp (Joan Halifax) là một nhà nhân chủng học nổi tiếng của Hoa Kỳ, nghiên cứu về văn minh người da đỏ. Chị là thành viên chúng chủ trì dòng tu Tiếp Hiện. Chị đã huấn luyện cho nhiều người trong việc hướng dẫn những người hấp hối. Các vị đều là những người có khả năng hiến tặng vô úy. Ta phải có khả năng hiến tặng vô úy cho người đời, trong những khúc quanh khó khăn nhất của đời họ, và khi họ hấp hối. Tôi có làm một bài hát lấy ý từ Tương Ưng Bộ với nhan đề là Ru người hấp hối, một bài có thể đọc, tụng hay hát cho người hấp hối nghe, dù người đó đang tỉnh hay đã mê.
Thảnh thơi, tự do, đó là bảo vật quý giá nhất của người xuất gia, em đừng bao giờ đánh mất nó. Phải thực tập chánh niệm và nghiêm trì giới luật em mới bảo vệ được tự do mình. Những cám dỗ như danh vọng, quyền hành, sắc dục và tiền bạc chỉ là những con mồi trong đó có móc một chiếc lưỡi câu sắc bén. Con cá tưởng con mồi là mồi thật nên đớp lấy và bị lưỡi câu móc vào cổ họng.
Hạnh phúc của em không phải do những tài, sắc, danh, lợi ấy đem tới. Vướng vào chúng, em sẽ mất tự do. Hạnh phúc của em là chất liệu vững chãi, thảnh thơi, vô úy và tình thương. Mỗi ngày em phải bồi đắp và phát triển những yếu tố đó trong em.

TAY TRONG TAY
Này người xuất gia trẻ, tôi đã có thể nhận ra em từ lúc em còn chưa xuất gia. Nhìn em, tôi biết trong em có hạt giống tốt của người xuất gia. Và tôi thường tâm tâm niệm niệm để em có đủ nhân duyên đi xuất gia sớm. Em đã xuất gia rồi, tôi mừng biết mấy. Tôi làm đủ những gì có thể làm để tạo điều kiện cho em được học, được tu, được nuôi dưỡng chí hướng của em. Tôi xót xa khi thấy em buồn khổ. Tôi vui mừng hạnh phúc khi thấy em hạnh phúc. Tôi hãnh diện khi thấy em độ được gia đình, giúp thầy em xây dựng nên Tăng thân, và bắt đầu có thể tạo dựng hạnh phúc cho người. Tôi lo lắng cho em, mong ước nuôi dưỡng được em như những chiếc lá đầu của cây chuối nuôi dưỡng những cuộn lá kế tiếp nằm trong lòng cây chuối. Em là niềm tin cậy của tôi. Em là con Bụt. Em là em tôi, là học trò tôi, là con tôi, là cháu tôi. Cho dù em chưa sinh ra, tôi cũng đã nhìn thấy em rồi. Mới thọ giới Sa di, Sa di ni hay đã thọ giới cụ túc, em là người xuất gia trẻ mang theo em chí hướng của Bụt. Em là sự nối tiếp của Bụt, là bảo bối của Pháp, là tinh hoa của Tăng. Là gái hay là trai, em cũng có thể mang lý tưởng Bồ tát đi vào đời. Nói chuyện tâm sự được với em hôm nay, tôi thấy lòng nhẹ nhõm. Tôi không bi quan, không lo lắng, bởi vì tôi có đức tin nơi em. Tôi sẽ có mặt bên em mãi. Tay em trong tay tôi, tay tôi trong tay Bụt, chúng ta hãy vững chãi đi về tương lai.
HT. THÍCH NHẤT HẠNH




image
NHƯ ÁNH MẶT TRỜI CHIẾU SÁNG
Đôi khi bạn thắc mắc là làm thế nào Phật giáo có thể nói chuyện về lòng từ bi và tình yêu trong một hơi thở và không chấp và về tất cả các tính chất của sự từ bỏ trong hơi thở khác. Nhưng là bởi vì bạn nhầm lẫn tình yêu với sự nắm giữ. Bạn nghĩ rằng nếu khi yêu ai đó, thì bạn muốn ôm giữ chặt như đó là thước đo tình yêu. Nhưng đó lại không phải là tình yêu, mà chỉ là bạn yêu chính mình, nên muốn giữ chặt. Đó không phải thật sự là yêu thương và muốn người yêu được yên lành và hạnh phúc. Điều này là rất quan trọng, bởi vì bạn luôn luôn nhầm lẫn nó.
Khi được mười chín tuổi, tôi đã thưa với mẹ tôi "Con dự tính đi Ấn Độ" và mẹ nói " Ồ, được đó con. Vậy khi nào con đi?" Mẹ không nói rằng, "Làm thế nào con có thể bỏ lại người mẹ già nghèo nầy, bây giờ con đã có đủ tuổi để kiếm sống, con làm thế nào có thể đi và bỏ quên mẹ được?" Mà mẹ chỉ bảo: " Đúng đấy con, khi nào thì con đi?" . Điều đó không có nghĩa là mẹ không yêu bạn, vì mẹ luôn thương yêu bạn. Và bởi vì mẹ thương b ạn nhiều hơn là thương bản thân mẹ, nên mong mọi sự an lành cho b ạn, chứ kh ông phải để làm cho mẹ hạnh phúc. Bạn có hiểu không? Hạnh phúc đến với mẹ là khi làm cho con vui sướng.
Đó là tình yêu, và đó là điều mà tất cả mọi người cần thực hành nhiều trong những mối liên hệ cá nhân. Để giữ người và các sở hữu như thế này (tay bạn dang ra để chỉ giữ một cái gì đó thật nhẹ nhàng trong lòng bàn tay) chứ không phải như thế khác ( nắm bàn tay lại để giữ một cái gì đó rất chặt chẽ). Vì vậy, mà khi bạn có họ, bạn trân quí và vui mừng, nên nếu họ đi thì bạn có thể cho họ đi. Sư biến đổi và vô thường là bản chất của tất cả các pháp.
Bạn thấy đó, khi ta mất đi điều gì đó mà mình yêu thích, thì sự chấp trước gậy đau khổ chứ không phải là sự mất mát đó. Đây là những nguyên nhân gậy đau buồn. Và đó là lý do tại sao mà Đức Phật dạy rằng “sự tham chấp gây ra sợ hãi và khổ đau”. Bạn sợ bị mất, nên đau khổ khi không còn. Ðức Phật không bao giờ nói rằng tình yêu gây nên đau khổ.
Tình yêu là sự mở trái tim, giống như ánh sáng mặt trời. Mặt trời chiếu sáng tự nhiên, không phân biệt đối xử, ban ánh sáng cho người này mà không cho người khác. Mặt trời chỉ cần chiếu sáng, bởi vì bản chất của mặt trời là mang lại sự ấm áp. Nếu bạn vào trong nhà, đóng kín các cửa, điều đó không ổn. Mặt trời chiếu sáng mọi phương. Như là bản chất của trái tim mà bạn cần khai phát. Khi mà tâm bạn được mở hoàn toàn, tình yêu thương sẽ vô biên, không điều kiện. Bạn sẽ yêu thương ai đó, nếu như họ làm được điều nầy, nhưng sẽ không còn yêu hơn nữa, nếu bạn làm điều khác đi như là cha mẹ đã làm, khi con cái không vâng lời.
TÂM TỊNH: Dịch xong ngày 10.11.2009



















CÁC MỤC KHÁC
Ý nghĩa Vu Lan (23/08/2010)
Hội thảo khoa học (30/07/2010)
Thư viết cho em (25/06/2010)
Hãy giữ lòng vui (17/06/2010)
Thiền và Tuổi trẻ (12/06/2010)
Tu Hành (09/06/2010)
Rừng tăng thân (06/05/2010)
Tình thương yêu (26/04/2010)
Giá trị cuộc sống (07/04/2010)
Mừng Xuân Di Lặc (04/02/2010)
Võ thuật Thiếu Lâm (31/01/2010)
Phật học Ứng dụng (13/01/2010)
Nhớ về Xuân xưa (31/01/2010)
Bóng dáng Thiên thần (12/01/2010)
Lên núi tập tu (02/01/2010)
Thiền Tịnh không hai (25/12/2009)
Nha Trang xưa (30/12/2009)
Lời hay ý đẹp (19/12/2009)
Thiên thần quét lá (20/08/2009)
Hoa sen và bùn tanh (11/06/2009)
Thành tâm dâng cúng! (28/03/2009)
Gởi chút lửa lòng! (17/03/2009)
Tĩnh tâm...! (30/11/2008)
Ý chí tuổi trẻ! (30/11/2008)

No comments:

Post a Comment