Sunday, 18 September 2011

TỈNH MỘNG ĐỜI



Nhìn ra trăng nước vơi đầy,

Nhìn đời một giấc mộng dài, ngắn thôi!

Đáy lòng vằng vặc gương soi,

Thăng hoa nhân quả, đón người thăng hoa!

Thích Tâm Châu







TỈNH MỘNG ĐỜI

Cảm niệm đĩa CD “ Tu Là

Sửa Đổi” của TN Chân-Thiền.



Trời ảm đạm, ánh dương soi quang đãng,

Nước vẩn ngầu, thiên-vũ lắng trong thanh.

Cây xum-xuê, tay khéo dệt nên tranh,

Đá ngang ngửa, xếp, xây thành non bộ.



Chưa bậc Thánh, người, ai không lầm lỡ,

Ai là không bỡ ngỡ, nếm hương đời.

Mắt lung-linh, hoa lá ngả tơi bời,

Giọng quyến rủ, can tràng thêm đòi đoạn.



Có quyền thế, lớp lớp người lai vãng,

Đầy đô la, oanh én liệng quanh nhà.

Trong thị-trường, buông thả mặc xa hoa,

Nơi hí viện, đắm say tràn khoái lạc.



Giờ nào đó, vô thường, thành tan tác,

Hoa rã cành, cánh hạc vút xa bay.

Bóng biển khơi, dòng lệ chảy vơi đầy,

Đời là mộng. Chỉ con đường tu tiến !



Đường tu tiến, vững đi trên chính-kiến,

Sửa sạch trong thân, miệng, ý nơi ta.

Một lòng nương theo dấu cũ Phật-đà,

Tròn phúc-tuệ, hiện trăng tròn đại-giác.



Tâm tạo tác nên những điều thiện ác,

Tâm trong lành, thiện ác cũng xuôi theo.

Hiểu vô thường, vô ngã, khổ bao nhiêu,

Niệm thiện khởi, thân tâm hoàn an-lạc.

Từ-Quang, ngày 08.2.2002

Thích-Tâm-Châu



BÓNG HOA ĐÀM



Bao năm khói lửa ngút ngàn khơi,

Một bóng hoa đàm mát dịu người.

Vượt thoát hiểm nguy tâm tịnh lạc,

Vườn đời muôn sắc vẫn xinh tươi.

Mùa Phật-đản, Pl. 2547 (2003)



望 清 平



甲 申 春 到 望 清 平

花 草 芳 鮮 萬 像 明

征 戰 長 休 人 好 合

諸 方 幸 福 樂 安 寧



VỌNG THANH BÌNH



Giáp-Thân xuân đáo vọng thanh bình,

Hoa thảo phương tiên vạn tượng minh.

Chinh chiến trường hưu nhân hảo hợp,

Chư phương hạnh phúc lạc an ninh.



MONG THANH BÌNH



Xuân Giáp-Thân sang, đón thái bình,

Cỏ hoa thơm tốt mọi loài xinh.

Chiến tranh ngừng hẳn, người giao hảo,

Hạnh phúc, an ninh khắp thị thành.

Xuân Giáp-Thân ( 2004 )



XUÂN TỚI MỪNG XUÂN



Xuân tới mừng xuân, xuân cả kinh,

Như trầm hương ngát tỏa quanh mình.

Như vầng sao sáng không-trung dậy,

Như mộng ngàn thu hiển hiện hình.



Như gió muôn phương tụ hội về,

Như làn hơi thở động sơn khê.

Như hồn sông núi vui tràn ngập,

Như nước cam lồ tỉnh mộng mê.



Như đất tròn xoay, vũ-trụ an,

Như tùng xanh đứng vượt nghiêm hàn.

Như lòng muôn vật xuân trường tại,

Như thấm hương xuân vạn cảnh nhàn.

Xuân Quý-Mùi ( 2003 )



動 心



心 目 搖 揮 天 地 狂

驚 聞 折 讓 越 邊 疆

前 人 血 汗 經 年 在

賣 國 求 榮 共 匪 彰



ĐỘNG TÂM



Tâm mục dao huy thiên địa cuồng,

Kinh văn triết nhượng Việt biên cương.

Tiền nhân huyết hãn kinh niên tại,

Mãi quốc cầu vinh Cộng-phỉ chương.



ĐỘNG TÂM



Trời đất quay cuồng dạ quặn đau !

Nghe tin cắt đất nhượng cho Tàu !

Bao đời xương máu công người trước,

Bán nước cầu vinh, Cộng cúi đầu !

Ngày Đông : 27.12. 2001



HỒNG-HIÊN TỰ-CẢNH



Hồng-Hiên tới dễ, khó về,

Nhớ nhà, nhìn cảnh, hồn quê nhẹ nhàng.

Mái chùa cổ kính hiên ngang,

Ngựa voi rồng cá hàng hàng tiếp nghinh.

Lững lờ mây trắng trời xanh,

Biển khơi thả gió an lành thông reo.

Dập dìu du khách ra vào,

Não phiền tan biến, ồn ào lắng im.

Ngước nhìn Bồ-tát Quán-Âm,

Nét từ bi hiện dõi tìm kêu than.

Di-Đà tiếp dẫn nghiêm trang,

Giơ tay tế độ muôn vàn sinh-linh.

Tạng-Vương dung mạo an bình,

Minh-châu, tích-trượng dấn mình độ vong.

Văn-Thù tỏa trí-tuệ thông,

Biến tan ngu muội về dòng giác-viên.

Uy-nghi, Bồ-tát Phổ-Hiền,

Nêu gương công hạnh trang-nghiêm muôn loài.

Ngài Di-Lặc ban nụ cười,

Từ bi hỷ xả dịu đời tang thương.

Thấy đời là đại-mộng trường,

Thế gian hạnh phúc không màng, ra đi.

Sáu năm khổ hạnh ai bì,

Sau khi đại giác lại vì độ sinh.

Bốn lăm năm tận sức mình,

Động tâm bốn chốn hình thành thiêng liêng.

Giáng sinh Lâm-tỳ-ni-viên,

Bồ-đề thành đạo vẹn tuyền công tu.

Độ anh em Kiều-trần-như,

Vườn Nai xe pháp từ từ chuyển xa.

Niết bàn tại Câu-thi-na,

Cuộc đời đức Phật Thích-Ca viên thành.

Nhìn qua bia đá chênh vênh,

Một Chín Một Bảy (1917) dấu hình đầu tiên,

Chiến tranh Pháp-Đức triền-miên,

Con dân đất Việt đến phiên khuông phù.

Nơi đây trại lính hậu khu,

Kẻ còn người mất đền bù niềm thương.

Tạm che một mái thảo-đường,

Thờ linh, thờ Phật tỏ tường nhớ ơn.

Danh-xưng tự hiệu Hồng-Hiên,

Hiên-ngang Hồng-Lạc rạng miền Âu-châu *

Bao năm mưa nắng dãi dầu !

Bao năm chính-pháp biết đâu tìm tòi !

May thay vận hội sau này,

Nhân duyên đưa đẩy có Thầy lo toan.

Trước sau dốc chí sửa sang,

Mở đường khai lối khang trang đàng hoàng.

Sớm chiều hương ngát, chuông vang,

Hồn dân tộc dậy lan tràn đó đây.

Trăng soi thấu đáy lòng cây,

Gió rung vách lá thêm say lòng thiền.

Giúp đời tỉnh mộng triền miên,

Giúp người an lạc, góp duyên Đạo Vàng.

Chùa Hồng-Hiên ngày 01.10.2002

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu



* Tại chùa Hồng-Hiên có hai đôi câu đối như sau :



1)- Hồng-Lạc linh-căn phương Việt-địa, Hiên ngang hùng-khí tráng Âu-thiên.

2)-Tự-ảnh cao tiêu dân-tộc-tính, Nguyệt-quang thâm ấn bách tùng tâm.



1)- Cội gốc linh thiêng của dòng Hồng-Lạc, đã làm lừng thơm nơi đất Việt,
Nay lại đem khí phách anh hùng làm vang dội mạnh cả bầu trời Aâu-châu.

2)- Bóng chùa nêu cao hồn dân tộc,
Ánh trăng in sâu vào lòng cây tùng cây bách.



決   心



決 心 恢 復 越 江 山

團 結 全 民 不 敢 寒

計 劃 千 班 方 便 用

凱 還 歌 曲 大 煇 煌



QUYẾT TÂM



Quyết tâm khôi phục Việt giang san,

Đoàn kết toàn dân bất cảm hàn.

Kế hoạch thiên ban phương tiện dụng,

Khải hoàn ca khúc đại huy hoàng.



QUYẾT TÂM



Giang sơn nước Việt phục hồi,

Quyết tâm đoàn kết không nguôi dạ này.

Biết bao kế hoạch hiện bày,

Khải hoàn ca khúc, ấy ngày vui chung.

Ngày Đông : 27.12. 2001



LÀM DUYÊN CHO ĐỜI

Cảm niệm bữa cơm gây quỹ

xây chùa Phật-Quang Úc-châu



Dòng đời chan chứa khổ đau,

Phật-Quang rải ánh đạo mầu nơi nơi.

Hương sen ngát tỏa khung trời,

Lời Vàng thấm đượm lòng người bơ vơ.

Mái chùa ẩn dấu tiêu sơ,

Lâng lâng thanh thoát hồn thơ nhẹ nhàng.

Lướt qua mưa gió phũ phàng,

Vượt qua chìm nổi huy hoàng tiến lên.

Lấy tâm chân chính xây nền,

Hành trang bố thí làm duyên cho đời.

Biết đời là lẽ đổi rời,

Chung lòng chung sức cùng người chung xây.

Vầng ô di chuyển Đông, Tây,

Xuân hoa tươi mát, Thu gầy vóc xưa !

Gây nhân công đức bao vừa,

Càng tăng phước thiện càng thừa vinh quang.

Cùng nhau tiến bước lên đàng !

Phật-Quang : 30.11.2003

Thích-Tâm-Châu



遍 滿 春



春 景 春 心 遍 滿 春

天 青 花 草 潤 人 群

四 時 亨 運 呈 歡 樂

萬 事 如 然 日 日 新



BIẾN MÃN XUÂN



Xuân cảnh, xuân tâm biến mãn xuân,

Thiên thanh hoa thảo nhuận nhân quần.

Tứ thời hanh vận trình hoan lạc,

Vạn sự như nhiên nhật nhật tân.



TẤT CẢ LÀ XUÂN



Tâm, cảnh vui tươi tất cả xuân,

Trời xanh, cây cỏ đến nhân quần.

Bốn mùa tốt đẹp mừng vui vẻ,

Muôn sự như nhiên, mới mới lần.

Xuân Giáp-Thân ( 2004 )



鴻  軒 古 寨



鴻 軒 古 寨 壯 歐 天

雄 氣 軒 昂 戰 士 傳

八 五 年 前 施 義 勇

名 藍 遠 振 樂 今 年



HỒNG HIÊN CỔ TRẠI



Hồng-Hiên cổ-trại tráng Âu-thiên,

Hùng-khí hiên ngang chiến-sĩ truyền.

Bát ngũ niên tiền thi nghĩa dũng,

Danh-lam viễn chấn lạc kim niên.



TRẠI CŨ HỒNG HIÊN



Trời Âu, trại cũ Hồng-Hiên,

Hiên ngang hùng-khí vang truyền chiến-binh.

Tám lăm năm nghĩa dũng thành,

Ngày nay chùa cảnh uy danh lẫy lừng.

Fréjus, tháng 10. 2002



夢 華 年



天 地 人 三 才

因 緣 合 展 開

慈 悲 并 智 慧

利 樂 滿 塵 埃



MỘNG HOA NIÊN



Thiên địa nhân tam tài,

Nhân duyên hợp triển khai.

Từ bi tinh trí-tuệ,

Lợi lạc mãn trần ai.



MỘNG TUỔI XANH



Trời đất người hòa hợp,

Nhân duyên sẽ mở mang.

Tình thương và hiểu biết,

Lợi lạc khắp nhân-hoàn.

Ngày Đông : 01.01. 2002



慈 光 景 置



屹 屹 高 居 向 海 蹤

四 圍 樓 閣 繞 朝 宗

青 松 垂 影 迎 風 眷

徬 彿 香 飄 喜 樂 中



TỪ-QUANG CẢNH-TRÍ



Ngật ngật cao cư hướng hải tung,

Tứ vi lâu các nhiễu triều tông.

Thanh tùng thùy ảnh nghinh phong quyến,

Phảng phất hương phiêu hỷ lạc trung.



Chon von ngồi hướng biển khơi,

Bốn bề lâu các xinh tươi triều vào.

Tùng xanh gió lượn rì rào,

Hương bay phảng phất tuôn trào niềm vui.

Nice, tháng 10.2002



觀 如 如



了 生 脫 死 觀 如 如

不 滯 空 時 不 可 思

壹 念 無 為 真 正 念

花 開 見 佛 入 無 餘



QUÁN NHƯ NHƯ



Liễu sinh thoát tử quán như như,

Bất trệ không, thời, bất khả tư.

Nhất niệm vô vi chân chính niệm,

Hoa khai kiến Phật, nhập Vô-dư.



QUÁN NHƯ NHƯ



Quán chiếu như như, rõ tử sinh,

Thời, không không vướng, chẳng suy bình.

Vô vi, chính niệm, không tà niệm,

Hoa nở Vô-dư, Phật hiện hình.

Từ-Quang : 19.01.2004



TỪ-QUANG TỰ-SỰ

慈光敘事



Ngồi trên chùa Nice nghĩ về xưa,

Biến cố bảy lăm (1975) thực bất ngờ.

Cả nước tang thương, người tán loạn,

Tấm thân lưu lạc, phận đong đưa.



Từ Thái-lan qua đến Nice này,

Ở ăn tùy tiện lẽ vơi đầy !

Nhà thuê mấy tháng rồi di-chuyển,

Chuyển tới Mi-ê (Cimiez) hạnh phúc thay !*



Tòa nhà thị-xã đứng trông coi,

Nhà đá hai tầng ngó biển khơi.

May mắn thiện-nhân thuê giúp hộ,

Từ-Quang ra mắt giữa lòng đời.



Một mình lủi thủi xuống cùng lên,

Lễ Phật tụng kinh, xuống bếp liền.

Sạch sẽ sân nhà, rau trái tốt,

Khách du tiếp đãi, giảng kinh chuyên.



Dần dần Phật-tử các nơi về,

Giảng pháp, in kinh bận gớm ghê !.

Lui tới Hồng-Hiên, đi các nước,

Vui cùng tứ chúng cảnh xa quê.



Mỗi độ thu về lá rụng rơi,

Mỗi lần mưa đổ mịt chân trời.

Mỗi đêm thanh vắng Giao-Thừa đến,

Là lúc hồn quê vật rã rời !



Vẫn biết vô thường khó tránh ai,

Lòng thương dân, nước chẳng mờ phai.

Đạo Vàng ân đức mong đền đáp,

Một tấm thân côi, một bản hoài.



Xa Nice đã trên hai chục năm,

Dấu đầu hoằng pháp khắc ghi tâm.

Mỗi năm vẫn một, hai lần viếng,

Gửi lại nguồn thương với nghĩa thâm.



Cầu mong cảnh Nice vẫn vui tươi,

Đạo với người chung cảnh tuyệt vời.

Vẫn nước trăng trong, làn gió nhẹ,

Vẫn đèn rực sáng, nở môi cười.



Nice với người đây nghĩa đẹp tươi,

Đạo, đời tươi đẹp một khung trời.

Cùng trong pháp-tính trong nguồn sống,

Mãi mãi trong thanh, mãi sáng ngời !

Nice, tháng 10.2002



* Thuê ngôi biệt-thị của thị-xã Nice, tháng 05 năm 1976,

số nhà 32 Avenue Dr. Ménard, vùng Cimiez, Nice, France.



到 澳 州



我 到 澳 州 處

同 仁 皆 善 侶

實 行 菩 薩 道

利 生 無 他 自



ĐÁO ÚC-CHÂU



Ngã đáo Úc-châu xứ,

Đồng nhân giai thiện-lữ.

Thực hành Bồ-tát-đạo,

Lợi sinh, vô tha, tự.



TỚI CHÂU ÚC



Ta đi tới Úc-châu,

Nhìn bạn mến thương nhau.

Thực hành đạo Bồ-tát,

Lợi sinh, không sắc màu.

Ngày Đông : 01.12. 2002



金剛影現



青 空 日 照

水 現 玲 瓏

光 影 色 燿

金 剛 體 中



KIM-CƯƠNG ẢNH HIỆN



Thanh-không nhật chiếu,

Thủy hiện linh lung.

Quang ảnh sắc diệu,

Kim-cương thể trung.



Trời xanh ánh nắng trong xanh,

Soi vùng nước lặng lung linh sáng ngời.

Muôn màu hiện ảnh chơi vơi,

Như kim-cương-thể một trời như như.

Nice, Trung-Thu 2002



CHIỀU VỀ BIỂN NICE



Đàn âu trải cánh biển xanh,

Gió lùa mây bạc nhuộm hình hoàng hôn.

Xe như nước chảy xuôi nguồn,

Thuyền như lá trải cánh buồm phất phơ.

Thanh-không chim sắt lượn chờ,

Xuống lên nhả khói vật vờ đó đây.

Lâu đài ven núi ngất ngây,

Đèn xanh vụt hiện, tỉnh say vô thường.

Thảnh thơi du-khách lên đường,

Hướng về quán trọ, tư lường trời mây.

Nhìn ra trăng nước vơi đầy,

Nhìn đời một giấc mộng dài, ngắn thôi.

Đáy lòng vằng vặc gương soi,

Thăng hoa nhân quả, đón người thăng hoa.

Nice, tháng 10.2002



HIẾU HẠNH



Nhớ thuở ngày xưa

Khi còn ấu thơ.

Cha mẹ thương con,

Biết nói sao vừa.

Khi con khôn lớn,

Cùng đời tranh đua.

Từng trong giây phút,

Không bao giờ lơ.



Thương con không bến không bờ,

Trọn lòng hiếu hạnh phụng thờ mẹ cha.

Mùa Thu, Quý-Mùi ( 2003 )



HỒNG-HIÊN TỰ-SỰ

鴻軒敘事



Chùa Hồng-Hiên gắn liền theo thế-cuộc,

Lụy chiến-tranh Pháp-Đức, dựng nơi này.

Việt, Miên, Lào đóng trại tại nơi đây,

Làm hậu-cứ, viện binh cho tiền-tuyến (1).



Người trai Việt, tỏ hiên ngang lão luyện,

Vang trời Âu, nghĩa dũng kém thua ai.

Giúp đỡ người không một chút nhạt phai,

Tâm tưởng hướng về quê cha đất tổ.



Ngay tại trại người chiến-binh đang ở,

Lập thảo-am thờ Phật-Tổ, vong linh.

Để sớm hôm trang trải trọn đạo tình,

Cầu yên ổn, cầu vong linh siêu thoát.



Một buổi nọ, một nguồn tin đầy hoan lạc,

Đó là tin Ngài Thanh-Vực  thăm chùa.

Cảm Việt-binh, còn nhớ đất Việt xưa,

Hồng-Hiên-Tự, tên ngôi chùa được đặt (2).



Rồi sau đó, chiến tranh may ngưng bặt,

Đâu đó về, nơi trại lính bỏ không.

Trại bỏ không, ngôi chùa cũng bỏ không,

Không người ở, cảnh chùa dần hư hoại.



Ít người Việt tại địa phương ái ngại,

Đứng ra thuê, để lui tới sớm chiều.

Lo đèn hương, lo tu bổ ít nhiều,

Cho cảnh giới bớt hoang liêu vắng vẻ.



Thêm bước nữa, gặp thời cơ đẹp đẽ,

Lập Hội chùa, lập đề án chỉnh trang.

Khung nền xưa xây cất lại đàng hoàng,

Phật thờ trước, Mẫu sau, cùng chiến-sĩ (3).



Thu, Bảy Lăm (1975), may có Thầy hoan hỷ,

Tới vùng này hướng dẫn việc Phật chung.

Nâng tinh thần đạo pháp với non sông,

Chung xây dựng, rạng danh dòng giống Việt.



Phong cảnh muốn trở nên nơi diễm tuyệt,

Phải đứng quyền tự chủ đất tên chùa.

Thầy đệ đơn lên Tổng Thống xin mua.

Được chấp thuận, giấy tờ xong xuôi cả.



Nơi thờ tự, thờ riêng thêm trang nhã,

Và, dễ dàng hành đạo của người tin.

Chùa nguy nga, Phật ngự đóa hồng-liên,

Điện nghiêm-túc, Mẫu-nghi coi lẫm liệt.



Ngôi nhà mới, dùng cho phần chuyên biệt,

Đã xây thành vững chắc và tiện nghi.

Khách vãng lai, nơi cư-trú Tăng, Ni,

Đều hoan hỷ, thảnh thơi trong chức vụ (4).



Ngoài vườn tược, cảnh hoang vu xưa cũ,

Đúc đường đi, trồng cây cảnh xanh tươi.

Tứ động tâm, chư tôn tượng sáng ngời,

Đứng tiếp dẫn, hàng Di-Đà rực rỡ .



Đức Di-Lặc đứng tươi cười nức nở,

Tích-trượng rung, hàng Địa-Tạng uy-nghiêm.

Hàng Quán-Âm, rải từ-lực vô biên,

Bình cam lộ cứu muôn loài giải thoát.



Gió biển thổi, tỏa hương thông ngào ngạt,

Mi-mô-da cùng hoa quý khoe màu.

Ngài Văn-Thù gieo trí-lực cao sâu,

Công hạnh lớn, Phổ-Hiền-Vương biểu tượng (5).



Rồng phụng ngựa voi chim cá lượn,

Đêm thanh gió mát bóng trăng kề.

Ai là người còn lưu luyến hồn quê,

Hồng-Hiên-Tự là hồn quê bất diệt.

Chùa Hồng-Hiên, tháng 10.2002



(1)- Năm 1914-1918, chiến tranh giữa Đức và Pháp. Pháp cai  trị 3 nước Đông-Dương : Việt-Nam, Cao-Miên và Ai-Lao. 3 nước này phải gửi quân sang giúp và đóng tại trại Galliéni, Fréjus. Các chiến binh Việt-Nam dựng một ngôi nhà lá để thờ Phật và những người đã mất. Thảo-am này được dựng nên năm 1917.



(2)- Trong thời gian chiến tranh, Hòa-Thượng Thích-Thanh-Vực được mời sang thăm viếng và an-ủi các chiến-binh. Ngài thấy anh em lập chùa thờ Phật và các vong linh, Ngài cho tên hiệu chùa là Hồng-Hiên-tự. “Hồng” là họ Hồng-Bàng. “Hiên” là hiên-ngang. Ý nói các chiến binh Việt-Nam là những người có chí-khí hiên-ngang, dòng dõi họ Hồng-Bàng, thủy-tổ của dân tộc Việt.



(3)- Hết chiến tranh, người đâu về đó, trại lính bỏ không và chùa cũng bỏ không. Có một số bà Việt lấy chồng Pháp, cư ngụ gần nơi trại, làm thư xin bộ Quốc-Phòng cho thuê khu chùa cũ để trông nom. Đó là ông bà  Francois Salmon cùng vài vị khác. Sau, các vị xin lập Hội lấy tên là Hội Phật-Giáo Côte d Azur năm 1967. Năm 1968 đổi tên là Hội Phật-Giáo Pháp. Cuối cùng, đổi tên là Hội Phật-Giáo Pháp-Việt năm 1970. Chùa được trùng tu vào năm 1972. Trong chùa thờ thành hai phía.Phía trước thờ Phật trông về đằng trước, phía sau thờ Mẫu và chiến sĩ trông về đằng sau. Thờ phụng tạm được, nhưng không được trang-nghiêm.



(4)- Tháng 07 năm 1975, Ban Trị Sự và chư Phật-tử Hội Phật-Giáo Pháp-Việt thỉnh Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu, Viện-Trưởng Viện-Hóa-Đạo Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống Nhất, kiêm Phó-Chủ-Tịch Giáo-Hội Phật-Giáo Tăng-Già Thế-Giới, kiêm Chủ-Tịch Hội Phật-Giáo Thế-Giới Phụng-Sự Xã-Hội, từ Bangkok sang Pháp, đảm trách ngôi vị Lãnh Đạo Tinh-Thần và Trụ-Trì chùa Hồng-Hiên ngày 17.08.1975. Ngày  01.04.1976 Hòa-Thượng kiêm nhiệm chức vụ Hội-Trưởng Hội Phật-Giáo Pháp-Việt, vì ông Hội-Trưởng Francois Salmon mất. Từ đó, Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu đứng ra xin mua đất, sửa chùa, làm nhà, thỉnh tượng, trang thiết hoa-viên, hướng dẫn Phật tử tu học.



(5)- Hoa viên chùa Hồng-Hiên, Hòa-Thượng cho đúc tượng tứ động tâm, tức là 4 nơi động tâm của Phật-Giáo : nơi đức Phật giáng sinh (vườn Lâm-tỳ-ni), nơi đức Phật thành đạo (Bồ-đề đạo-tràng), nơi đức Phật thuyết pháp (vườn Lộc-Uyển) và nơi đức Phật nhập-niết-bàn (Câu-thi-na). Ngoài ra, Hòa-Thượng còn đúc thêm các tượng : tượng đức Phật Di-Lặc, tượng Bồ-tát Văn-Thù, Bồ-tát Phổ-Hiền, hai hàng tượng đức Phật Di-Đà tiếp dẫn, hai hàng tượng đức Quán-Thế-Âm rải nước từ bi, hai hàng tượng đức Địa-Tạng cầm minh-châu, tích trượng cứu độ chúng sinh.



NHÌN THẾ-SỰ



Chiến-tranh lạnh ngừng im năm Chín Mốt *

Ai cũng mừng, sẽ được hưởng thanh bình.

Không bao lâu khói lửa lại tung hoành,

Vì sắc tộc, vì hiềm thù tôn giáo.



Serbia giết dân Kosovo tàn bạo,

Ái-nhĩ-lan, Thiên-chúa-giáo, Tin-lành.

Israel với dân-tộc Palestin,

Cùng nhiều nước nơi Phi-Châu bùng nổ.



Mượn chính nghĩa, qua danh kia nghĩa nọ,

Nương sức ngoài, gây thanh thế xưng hùng.

Hạnh phúc dân đưa đến chỗ bần cùng,

Tiêu mạng sống dân đen không hối hận.



Cùng nhân loại, sao coi nhau tàn nhẫn,

Cùng tham sinh úy tử, khác gì đâu !

Dù danh kia lợi nọ được bao lâu,

Nhân quả tới, chạy nơi nào thoát khỏi !



Có đạo giáo để tránh điều tội lỗi,

Đạo giáo là vườn hoa quý của nhân sinh !

Có sắc dân, dù có khác sắc hình,

Máu vẫn đỏ, sống như nhau không khác !



Mê lầm lắm, nên quay về bến giác !

Thương yêu nhau và giúp đỡ lẫn nhau !

Lấy tình thương, lấy hiểu biết làm đầu,

Chung xây dựng nền thanh bình vĩnh cửu.

Nice, tháng 10.2002



* Năm 1991, chiến tranh lạnh giữa khối Cộng-Sản Nga và khối Tự-Do Mỹ ngưng hẳn, bởi các nước Cộng-Sản Đông-Âu và thành trì Liên-sô sụp đổ.



觀 虛 空



嚴 冬 任 嚴 冬

散 步 雪 塘 中

風 逐 增 冷 氣

遙 觀 獨 立 松



公 園 沉 安 靜

四 顧 白 山 通

樹 立 歡 人 走

木 槃 歎 淨 空



雪 清 安 槃 上

仰 臥 看 蒼 穹

法 界 無 邊 際

風 雲 幸 遇 逢



宇 宙 徇 環 轉

高 低 品 類 同

萬  班  容  別  相

佛 性 在 其 中



QUÁN HƯ KHÔNG



Nghiêm-Đông nhậm Nghiêm-Đông,

Tản bộ tuyết đường trung.

Phong trục tăng lãnh khí,

Dao quan độc lập tùng.



Công viên trầm an tĩnh,

Tứ cố bạch sơn thông.

Thụ lập hoan nhân tẩu,

Mộc bàn thán tịnh không.



Tuyết thanh an bàn thượng,

Ngưỡng ngọa khán thương khung.

Pháp giới vô biên tế,

Phong vân hạnh ngộ phùng.



Vũ trụ tuần hoàn chuyển,

Cao đê phẩm loại đồng.

Vạn ban dung biệt tướng,

Phật tính tại kỳ trung.



Nghiêm-Đông mặc Nghiêm-Đông,

Đường tuyết bước thung dung.

Gió đẩy thêm khí lạnh,

Nhìn xa một bóng tùng.



Công viên im thin thít,

Núi trắng bốn bề thông.

Cây đứng mừng người tới,

Bàn gỗ vẳng lặng không.



Bàn gỗ vun sạch tuyết,

Nằm trông ngắm trời xanh.

Bao la nhìn pháp giới,

Vận hội gió mây lành.



Vũ trụ tuần hoàn chuyển,

Thấp cao phẩm loại đồng.

Muôn ngàn hình tướng khác,

Phật tính ẩn nơi lòng.

Montreal : 10.01.2004



KHÔNG QUÊN CHÍNH NIỆM



Bao đời kiếp đắm chìm trong sinh tử,

Quên bản tâm, quên chính niệm nơi mình.

Cuốn theo đời, qua dòng xoáy vô minh,

Lên và xuống, hiện thiên hình vạn trạng.



Tâm, vật-lý, nhìn đảo điên, tính toán,

Chấp đoạn, thường với ngã ái, si mê.

Xa, xa xa nơi chốn phải quay về,

Tâm viên-giác được kết tinh bằng chính niệm.



Niệm muôn pháp, kinh qua bao thực-nghiệm,

Là vô thường, vô ngã, khổ đau hoài.

Niệm nhân sinh qua hành-nghiệp phôi thai,

Thiện, bất thiện bóng hình không sai chạy.



Niệm ân nghĩa, trả đền, không sai trái,

Dù hạt cơm, dù manh áo mà thôi!

Với một lời vàng ngọc tạo nên đời,

Với công đức lưu truyền cho hậu thế.



Niệm Phật-pháp gạn trong bao suối lệ,

Tạo cho mình một hải-đảo vô sinh.

Phá tối tăm đạt tới đại-quang-minh,

Trăng diệu-giác lung linh trong nước tịnh.



Niệm chân chính in sâu nơi chân-cảnh,

Tỏa hào quang rọi sáng khắp xưa sau.

Niệm vươn lên trong như-lý nhiệm mầu,

Muôn sự vật đượm vô biên phước lạc.

Phật-Đà, ngày 14.12.2002



TẤT CẢ LÀ XUÂN

Cảm niệm tập thơ

“Nụ Đào Nở Hoa”

của Thích-Thiện-Hữu



Tất cả đều là xuân,

Dù vũ-trụ chuyển vần.

Dù cỏ cây thay áo,

Dù dáng vóc thế-nhân.



Kìa bầu trời xanh xanh,

Làn mây trắng vui quanh.

Trong không-gian vô tận,

Nhuộm ánh sáng trong lành.



Gió nhẹ ru cành lá,

Nâng hồn nhạc vô sinh.

Tinh-hoa cây lặng chuyển,

Dìu dịu giọng vô thanh.



Róc rách từ nguồn sâu,

Ghềnh khe đá gật đầu.

Cỏ cây căng nhựa sống,

Ủ chân-lý nhiệm mầu.



Hoa tuyết trắng không gian,

Cây trơ ngắm nghiêm-hàn.

Hơi xuân vừa lay tỉnh,

Hoa lá rộ huy hoàng.



Hữu tình hay vô tình,

Hàm dưỡng thể trường sinh.

Thỏ ngọc nương tay chỉ,

Muôn sông hiện bóng hình.

Phật-Đà : 15.12.2002



CHÚC MỪNG

Phật-tử Hoàng-thị-Ngọc 90 tuổi



Phúc-ấm gia-đình quý hóa thay,

Chín mươi tuổi thọ đẹp xum vầy.

Cháu con săn sóc lòng yêu quý,

Bầu bạn thăm non nghĩa trọn đầy.

Nền đạo một lòng chung góp sức,

Việc đời trăm cảnh sẵn sàng xây.

Nhờ ơn Tam Bảo thường gia hộ,

Hiện thế, lai sinh lộc thọ dầy.

Mùa Đông Nhâm-Ngọ (2002)

Thích-Tâm-Châu



CỬU TUẦN KHÁNH THỌ

Cụ Hoàng-Thị-Ngọc



Chín mươi tuổi thọ Phật cho,

Thân tâm an lạc, không lo, không phiền.

Đức như nhiên, dáng dịu hiền,

Nhất tâm niệm Phật tinh chuyên không rời.

Nếp nhà ngày một rạng ngời,

Cháu con vinh hiển nơi nơi kính mừng.

Gió reo hoa nhạc tưng bừng,

Ao sen thất bảo lẫy lừng tương lai.

Mùa Đông năm 2002



MỪNG SINH NHẬT

Phật-tử Trí-Thắng



Trí-Thắng năm nay

đã tám mươi,

Tóc tuy bạc trắng,

đạo càng tươi.

Phật-Quang, Phật-sự

không ngừng nghỉ,

Sống quá trăm năm

giúp đạo đời.

Chùa Phật-Quang :15.01.2003

Hòa Thượng Thích-Tâm-Châu



THƠ CHÚC THỌ HÒA-THƯỢNG

của Ni-Sư Như-Trang chùa Đại-Bi

Quận Tân-Bình, Saigon, Việt-Nam



Bổn-tự Đại-Bi chúc thọ Thầy,

An khang tứ đại rất mừng thay.

Phước như Đông-hải công thành tựu,

Thọ tỷ Nam-sơn đức đủ đầy.

Thuyết pháp độ sanh vô số kể,

Hoằng truyền chánh pháp khắp đông tây.

Chúc Thầy pháp-thể khinh an mãi,

Vạn thọ vô cùng độ đó đây.

Xuân Quý-Mùi (2003)



NHỜ ƠN ĐỨC PHẬT

( Họa theo nguyên vận thơ

chúc thọ của NS Như-Trang )



Sa-giới nhờ ơn một đức Thầy,

Thấm nhuần mưa pháp mát lành thay.

Căn trần gắng sửa, nhân công đức,

Phúc trí siêng tu, quả trọn đầy.

Đuốc tuệ soi chung không giới hạn,

Lòng từ ban rải khắp đông tây.

Non sông, đạo pháp trùng hưng vận,

Trăng nước mây trời thỏa chí đây !

Xuân Quý-Mùi (2003)



MỪNG NGÀY RƯỚC PHẬT

Lên Chùa A-Di-Đà Mới



Hăm mấy năm trường, cảnh bấp bênh,

Tưởng chừng Phật-sự khó viên thành.

Ngày nay thành được mừng vô hạn,

Tam Bảo, Thiên Long chứng đạo tình.



Nghĩ thương Phật-tử vẫn một lòng,

Dù gặp gian lao vẫn gắng công.

Chung sức, cúng dường, chuyên khấn nguyện,

Nguyện thuyền Phật-pháp thuận xuôi dòng.



Tăng Ni một mực gắng lo toan,

Vất vả bao nhiêu dạ chẳng sờn.

Quyết chí mua ba căn phố nữa,

Hợp cùng bảng vẽ mới chu toàn.



Chính quyền chấp thuận, khởi công xây,

Nhưng vẫn còn qua lắm chuyện gay.

Cắt đất sau chùa, đường thoát hiểm,

Đất mang ô nhiễm phải thay ngay !



Tài-chính khó khăn phải mượn vay,

Thu, Đông thay đổi khó ngờ thay !

Công trường chậm trễ nhiều duyên nghiệp,

Nơm nớp lo âu ngày lại ngày.



Tuy vậy, tín tâm, việc vẫn nên,

Cho ta tôi luyện cái tâm bền.

Cho ta gắng sức tu hành mãi,

Vui hưởng liên-đài chín phẩm lên.

Chùa Di-Đà : 26.01.2003

Thích-Tâm-Châu



CHÚC MỪNG :

Phật-tử Trần-Thế-Vinh và

Phật-tử Ngô-Thị-Mỵ 90 tuổi



Tổ ấm ban cho tuổi chín mươi,

Đạo đời thương mến đậm đà vui.

Đức nhà phúc hậu qua ly loạn,

Pháp Phật huyền vi hóa giải đời.

Thế sự lo toan tròn phận sự,

Bản thân thấu rõ lẽ vơi đầy.

Gắng theo gương Phật tâm an tịnh,

Mình với đồng nhân mãi thắm tươi.

Tổ-Đình Từ-Quang

Ngày 07.01.Quý-Mùi

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu



VÔ ĐỀ



Lất phất

bụi mưa bay,

Tâm an lạc

tràn đầy.

Cây ung dung

đón gió,

Mây núi

ửng vàng hây.

San Jose : 15.3.2003



BƯỚC THUNG DUNG



Trời mờ mờ

hơi sương,

Chân nhẹ

bước trên đường

Nhịp thở

an chính niệm,

Thân tâm

tràn thanh lương.

San Jose : 15.3.2003



封 棺 偈



陰 界 陽 塵 兩 隔 間

承 茲 咒 力 念 封 棺

色 身 假 合 還 元 本

神 識 安 然 入 涅 槃



PHONG QUAN KỆ *



Âm giới, dương trần lưỡng cách gian,

Thừa tư chú-lực niệm phong quan.

Sắc-thân giả hợp hoàn nguyên bản,

Thần-thức an nhiên nhập niết-bàn **



Âm dương đôi ngả cách nhau rồi,

Chú-lực, quan tài đóng lại thôi !

Giả tạm thân này về chỗ cũ,

Niết-bàn tự tại thảnh thơi ngồi ***



* Bài kệ đóng nắp quan tài



** Cư-sĩ, đổi ra :“Thần-thức an nhiên tự tại nhàn”.

*** Cư sĩ, đổi ra: “Thanh nhàn tự tại thỏa rong chơi”.



移 棺 偈



移 轉 肉 身 向 火 臺

焚 燒 濁 氣 絕 塵 埃

色 空 兩 極 還 元  體

一 念 圓 光 極 樂 開



DI-QUAN KỆ *



Di-chuyển nhục-thân hướng hỏa đài,

Phần thiêu trọc-khí tuyệt trần-ai.

Sắc không lưỡng cực hoàn nguyên-thể,

Nhất niệm viên-quang Cực-Lạc khai.



Thân xác chuyển di tới hỏa đài,

Thiêu tan trược-khí dứt trần-ai.

Sắc không hai cực về nguyên-tạng,

Một niệm viên quang Cực-Lạc khai.



* Bài kệ di chuyển quan tài đến dàn hỏa.



拂 塵 偈



娑 婆 惡 濁 苦 沉 淪

一 拂 塵 埃 不 染 塵

心 物 一 如 籠 性 海

寂 光 常 在 潤 長 春



PHẤT TRẦN KỆ *



Sa-Bà ác-trọc, khổ, trầm-luân.

Nhất phất trần ai bất nhiễm thần.

Tâm vật nhất như lung tính-hải,

Tịch quang thường tại nhuận trường xuân.



Sa-Bà ác trược phải trầm-luân,

Phủi sạch trần ai chẳng nhiễm thần.

Tâm vật chung nhau trong biển tính,

Tịch-quang còn mãi, mãi trường xuân.

Tháng 03.2003



* Bài kệ cầm cây phất trần phẩy trên quan tài



捨 喪 偈



典 型 孝 服 事 周 全

今 日 捨 喪 拜 祖 先

家 道 恆 遵 家 教 育

宗 門 永 振 子 孫 傳



XẢ TANG KỆ *



Điển hình hiếu-phục, sự chu tuyền,

Kim nhật xả tang, bái Tổ-tiên.

Gia đạo hằng tuân gia giáo dục,

Tông-môn vĩnh chấn tử tôn truyền.



Lễ nghi hiếu phục đã chu tuyền,

Nay được xả tang lạy tổ-tiên.

Gia-đạo tuân theo lời giáo huấn,

Đời đời hưng thịnh cháu con truyền.

Tháng 03.2003



* Bài kệ bỏ áo tang



五 旬 慶 喜



天 命 有 餘 福 壽 開

莊 嚴 依 正 潤 僧 才

江 山 道 法 存 心 念

燦 爛 時 光 向 寶 臺



NGŨ TUẦN KHÁNH HỶ

Thân tặng Thượng-Tọa Thích-Như-Điển

Viện-Chủ chùa Viên-Giác, Đức-quốc.



Thiên mệnh hữu dư * phúc thọ khai,

Trang-nghiêm y, chính nhuận Tăng-tài.

Giang sơn, đạo pháp tồn tâm niệm,

Xán lạn thời quang, hướng bảo-đài.



Năm lăm phúc thọ nở hoa,

Trang-nghiêm y, chính đậm-đà Tăng-thân.

Lòng mang đời, đạo tinh thần,

Thời-quang bừng sáng nhẹ chân liên-đài.

Chùa Viên-Giác, Hannove, Đức-quốc,

Ngày 28 tháng 6 năm 2003

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu

hỷ tặng

* 50 tuổi gọi là “Tri thiên-mệnh”. “Hữu dư” là “có thừa” tức là ngoài 50 tuổi.



榮 任 住 持



繼 往 開 來 佛 法 份

和 明 清 毅 造 功 勳

勤 求 妙 法 資 身 命

利 樂 群 生 種 勝 因



VINH NHẬM TRỤ-TRÌ

Mừng Đại-Đức Thích-Hạnh-Tấn

Vinh nhậm Trụ-Trì chùa Viên-Giác

Đức-quốc



Kế vãng khai lai, Phật-pháp phần,

Hòa, minh, thanh, nghị, tạo công huân.

Cần cầu diệu-pháp tư thân-mệnh,

Lợi lạc quần sinh chủng thắng-nhân.



Đây phần Phật-pháp trao cho,

Thuận hòa, trong sáng, siêng lo công trình.

Chăm cầu diệu-pháp sửa mình,

Chúng sinh vui vẻ, trưởng thành thắng-nhân.

Chùa Viên-Giác, Hannove, Đức-quốc,

Ngày 28 tháng 6 năm 2003

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu

hỷ tặng



匡 越 寺 感 作



匡 越 往 時 現 此 方

圓 容 二 諦 顯 真 常

智 明 開 展 人 花 潤

道 法 長 留 歲 月 長



KHUÔNG-VIỆT-TỰ CẢM TÁC



Khuông-Việt vãng thời, hiện thử phương,

Viên-dung nhị đế, hiển chân-thường.

Trí-Minh khai-triển, nhân hoa nhuận,

Đạo pháp phương lưu, tuế nguyệt trường.



Dấu xưa, Khuông-Việt hiện thời,

Chân-thường hiển-lộ, đạo, đời viên-dung.

Trí-Minh, cảnh-vật tưng bừng,

Hương thơm đạo pháp  lẫy lừng dài lâu.

Chùa Khuông-Việt Oslo, Na-Uy : 02.07.2003

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu

cảm tác



CƠ DUYÊN HUYỀN-DIỆU



Hăm tám năm trường thấm thoát mau *,

Không gian bàng bạc tỏa muôn màu.

Cơ duyên huyền-diệu lồng hương gió,

Thoảng chốc tâm-linh hiệp ý đầu !



Khuông-Việt dấu xưa tỏa ngát hương,

Na-Uy thêm vẻ đẹp khôn lường.

Chung vui, con Phật hòa mây quyện,

Tâm với tâm đồng, đạo Pháp-Vương !

Mùa an-cư, chùa Khuông-Việt,Na-Uy

Phật-lịch 2547, ngày  02. 07. 2003

Hòa-Thượng Thích Tâm-Châu

            hỷ tặng           


* 1975-2003



廣 香 寺 自 感



四 十 年 前 法 難 臨

滿 天 嗟 歎 淚 難 扲

廣 香 為 法 忘 身 命

道 行 長 留 百 姓 心



丹 脈 北 歐 創 道 場

芳 名 寺 號 播 諸 方

風 光 景 界 民 安 樂

妙 法 弘 揚 遍 吉 祥



QUẢNG-HƯƠNG-TỰ TỰ-CẢM



Tứ thập niên tiền, Pháp-nạn lâm,

Phổ thiên ta thán, lệ nan cầm !

Quảng-Hương vị pháp vong thân mệnh,

Đạo hạnh trường lưu bách tính tâm.



Đan-Mạch, Bắc-Âu, sáng đạo-trường,

Phương danh tự hiệu, bá chư phương.

Phong quang cảnh giới, dân an lạc,

Diệu-pháp hoằng dương, biến cát tường.



Bốn mươi năm Pháp-nạn qua,

Khắp trời vẳng bóng lệ nhòa, điêu linh.

Quảng-Hương vì đạo quên mình,

Kính thương đạo hạnh, chân tình ghi ơn.



Bắc-Âu, Đan-Mạch dựng chùa,

Quảng-Hương tự-hiệu vang hòa nơi nơi.

Phong quang cảnh vật vui tươi,

Pháp mầu đem lại đời, người thăng hoa.

Chùa Quảng-Hương, Arhus, Đan-Mạch.

Ngày  04 tháng 7  năm 2003

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu



VẪN TRÔNG VỀ



Hăm tám năm trường xa cách quê *

Hồn thiêng sông núi, vẫn trông về !

Rạng danh đạo pháp và dân tộc,

Đem lại cho đời bớt khổ, mê.



Vượt thoát gian lao, chẳng quản gì,

Dựng xây sự nghiệp đáng khen, ghi !

Trời cao, biển rộng, hồn quê rộng,

Một phút huy-hoàng, trở lại quê !

Chùa Quảng-Hương, Arhus, Đan-Mạch,

Ngày 04 tháng 7 năm 2003

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu

cảm niệm



*1975-2003



萬 幸 寺 感 作



黎 李 兩 朝 燦 爛 中

勳 風 萬 幸 莫 能 窮

轉 移 鄙 運 成 興 運

振 錫 王 畿 萬 世 功



亡 國 越 民 思 故 鄉

高 標 尊 號 立 尊 堂

國 家 道 法 真 懷 望

興 盛 安 平 世 永 昌



VẠN-HẠNH-TỰ CẢM TÁC



Lê, Lý lưỡng triều xán-lạn tung,

Huân-phong Vạn-Hạnh mạc năng cùng.

Chuyển di bỉ-vận thành hưng-vận.

Chấn tích vương-kỳ vạn thế công.



Vong quốc Việt-dân tư cố hương,

Cao tiêu Tôn-hiệu lập Tôn-đường.

Quốc gia, đạo pháp chân hoài vọng,

Hưng thịnh, an bình, thế vĩnh xương.



Hai triều Lê, Lý rỡ ràng,

Huân-phong Vạn-Hạnh mọi đàng ngợi khen.

Suy vi chuyển, thịnh bừng lên,

Đế-đô muôn thuở gắn liền Tôn-danh.



Nhớ nhà, dân Việt nơi đây,

Danh Ngài kỷ niệm dựng xây Phật-đường.

Quốc gia, đạo pháp kính thương,

Cầu mong hưng thịnh, phú cường dài lâu.

Chùa Vạn-Hạnh, Odense, Đan-Mạch

Ngày  05 tháng 7 năm 2003

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu

cảm tác



CÓ NHỚ KHÔNG ?



Hăm tám năm trường có nhớ không ?*

Bao nhiêu tang tóc, lắm đau lòng.

Cửa nhà tan nát, người xa cách,

Hồn quế mơ màng núi, biển, sông !



Nghiệp-vận xui nên chẳng oán than,

Gắng công tu tỉnh, vượt cơ hàn.

Trau dồi hiểu biết, tình thương rộng,

Đời, đạo ngày mai thực rỡ ràng.

Chùa Vạn-Hạnh, Odense, Đan-Mạch

Ngày  05 tháng 7 năm 2003

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu

cảm niệm



* 1975-2003



佛 光 寺 感 作



瑞 典 青 山 現 一 痤

佛 光 樓 閣 弄 清 華

四 圍 林 木 連 環 繞

泉 石 遙 聞 般 若 歌



淨 樂 心 思 樂 草 花

福 緣 招 感 共 雲 霞

紹 隆 佛 種 春 長 在

浸 潤 群 生 了 佛 陀



PHẬT-QUANG-TỰ CẢM TÁC



Thụy-Điển thanh sơn hiện nhất tòa,

Phật-Quang lâu các lộng thanh hoa.

Tứ vi lâm mộc liên hoàn nhiễu,

Tuyền thạch dao văn bát-nhã ca.



Tịnh lạc tâm tư lạc thảo hoa,

Phước duyên chiêu cảm cộng vân-hà.

Thiệu long Phật-chủng, xuân trường tại,

Tẩm nhuận quần sinh liễu Phật-Đà.



Thanh sơn bỗng hiện một tòa,

Phật-Quang, Thụy-Điển, thanh hoa tụ thành.

Bốn bề cây cỏ vây quanh,

Suối reo bát-nhã âm thanh ca mừng.



Tâm vui, hoa cỏ tưng bừng,

Phước duyên, Tịnh-Phước hòa cùng ráng mây.

Nối dòng Phật-pháp lâu dài,

Quần sinh liễu ngộ lên đài Giác-hoa.

Chùa Phật-Quang, Goteborg, Thụy-Điển

Ngày 07 tháng 07 năm 2003

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu

cảm tác



CÓ CHI BÀN ?



Hăm tám năm trường tâm vẫn an,*

Vô thường, vô ngã có chi bàn ?

Có không, không có tuồng mây nổi,

Hòa nhập thiên nhiên, vạn cảnh nhàn.



Hiểu biết, tình thương tạc đáy lòng,

Nhân sinh, vạn vật một nhà chung.

Chung vui, chung sức cùng xây dựng,

Cùng dắt nhau lên cảnh đại đồng.

Chùa Phật-Quang, Goteborg, Thụy-Điển,

Ngày  07 tháng 7 năm 2003

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu

tự cảm



* 1975-2003



VÀI NÉT TINH THẦN

với thi phẩm “Đường Về”

của Ni Sư Chân Phước



Chân không biển giác ngập tràn,

Có, không, không, có niết bàn thảnh thơi.

Dọc ngang góc biển, chân trời,

Vô sinh trổi khúc an vui chân thường.

Quán Âm thị hiện muôn phương,

Di Đà sáu chữ đạo thường siêu linh.

An nhiên trong chốn hữu tình,

Siêu nhiên lặng lẽ dáng hình chân như.

Một vần thơ! Một vần thơ!

Tạo duyên lợi lạc, mộng mơ, thoát trần!

Montreal, xuân Giáp Thân (2004)



TÌM VỀ CHỐN XƯA

Cảm niệm Tập Nhạc “Tìm về Chốn Xưa”*

của Thích-Viên-Giác, chùa Khuông-Việt, Na-Uy.



Này hỡi ai ơi ! Ai có hay !

Bắc-Âu xuân tới, cỏ hoa đầy.

Trời xanh mây trắng ru hồn gió,

Núi nhả hơi hương, lá chuyển lay.



Thế kỷ hai mươi, nóng, lạnh qua,

Chuyển sang hăm mốt, mộng chi là ?

Văn minh Tin Học mông mênh quá,

Thu gọn không, thời, một sát-na.



Những tối mùa Đông giá buốt lên,

Bóng hình dĩ vãng hiện ngay liền.

Ngoài trời tuyết phủ cây im lặng,

Trong đáy tâm tư sóng nhạc rền.



Vũ trụ tình yêu không bến bờ,

Là trăng, là gió, gợi hồn thơ.

Là tình thanh sắc, ôm sầu mộng,

Là nước non thiêng, đạo phụng thờ.



Nhìn lại thời gian qua quá mau,

Tóc xanh thoáng chốc bạc phơ màu.

Ân tình nặng trĩu sầu vương vấn,

Tử biệt, sinh ly thấm khổ đau.



Nay ở nơi đây mặc vọng cầu,

Thời-quang thấm thoát, mai về đâu ?

Thiện lên, ác xuống quanh ba cõi,

Một niệm Di-Đà vượt trước sau.



Rồi cũng thế thôi, một cuộc đời !

Hơn thua, danh lợi, áng mây trôi.

Hoa tàn, trăng khuyết, sông bồi, lở,

Bừng nở hoa tâm, ánh rạng ngời.



Chào đón Chư Tôn mỗi Hạ về,

Như lên bờ giác, vượt sông mê.

Tăng thêm giới, tuệ, thêm tình đạo,

Thêm nỗi an vui, giác-lộ kề !



Ta hãy tìm về chốn cũ xưa,

Chốn xưa bờ giác vượt ba thừa.

Nơi đây cõi tịnh là tâm tịnh,

Đây đức Từ-Tôn sẵn đón chờ !



Nương thuyền bát-nhã vượt sông mê,

Sắc sắc, không không rõ mọi bề.

Không sợ, không lo, không vướng bận,

Đạt vô sở đắc, thẳng về quê !



Thế gian như huyễn nghĩ bàn chi !

Viên-Giác không-tâm, thực đáng ghi.

Ba học siêng tu, chân-giải-thoát,

Tương lai y, chính, chẳng ai bì !



Duyên bởi thanh âm, ngộ đạo mầu,

Tùy cơ, phương tiện, dẫn người sau.

Tâm trong, sự vật hòa trong lặng,

Cực-Lạc, Di-Đà, tín, nguyện sâu !

Chùa Khuông-Việt, Na-Uy : 08.7.2003

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu

cảm niệm



* “Tìm Về Chốn Xưa” là tên Tập Nhạc gồm có 10 bài.

Đầu đề mỗi bài được nêu ra bằng chữ đậm trong bài.



匡 越 夏 場 感 念



匡 越 今 年 結 夏 場

欽 遵 佛 旨 廣 宣 揚

諸 方 僧 信 雲 來 集

花 草 霑 需 慧 炬 彰



朝 暮 鍾 聲 鼓 鐸 和

陰 陽 兩 界 沐 恩 波

雲 籠 梵 宇 香 風 眷

法 雨 長 流 長 佛 陀



煩 惱 眠 留 積 往 來

一 時 冰 盡 覺 花 開

圓 明 顯 發 揮 無 漏

妙 覺 真 如 燦 寶 臺



佛 事 圓 成 心 印 心

芳 流 大 地 德 難 尋

去 來 水 月 無 容 跡

合 唱 無 聲 般 若 琴



KHUÔNG-VIỆT HẠ-TRƯỜNG

CẢM-NIỆM



Khuông-Việt kim niên kết Hạ-trường,

Khâm tuân Phật-chỉ quảng tuyên dương.

Chư phương Tăng, tín vân lai tập,

Hoa thảo triêm nhu, tuệ cự chương.



Triêu mộ chung thanh, cổ, đạc hòa,

Âm dương lưỡng giới mộc ân ba.

Vân lung phạm-vũ, hương-phong quyến,

Pháp-vũ trường lưu, trưởng Phật-Đà.



Phiền-não miên lưu tích vãng lai,

Nhất thời băng tận, giác-hoa khai.

Viên-minh hiển phát, huy vô-lậu,

Diệu-giác chân-như xán bảo-đài.



Phật-sự viên thành, tâm ấn tâm,

Phương lưu đại địa, đức nan tầm.

Khứ lai thủy nguyệt vô dung tích,

Hợp xướng vô thanh bát-nhã-cầm.



Khuông-Việt năm nay kết Hạ-trường,

Vâng lời Phật dạy rộng tuyên dương.

Chư Tăng, thiện tín chư phương lại,

Cây cỏ reo vui, đuốc tuệ giương.



Sớm hôm chuông trống, mõ vang rền,

Lợi lạc âm dương hết não phiền.

Chùa rợp mây hòa, hương gió thoảng,

Mưa tuôn Phật-pháp, mãi lan truyền.



Phiền-não bao đời, xưa tới nay,

Giác-hoa bừng nở, sạch tiêu rầy !

Viên-minh rực rỡ tuyền vô lậu,

Diệu-giác, chân-như hiện bảo-đài.



Tâm với tâm đồng, Phật-sự thông,

Đức-hương lưu lại sánh sao cùng !.

Nước trong, trăng hiện không lưu dấu,

Bát-nhã vô thanh tự tại rung !

Chùa Khuông-Việt, Na-Uy : 09.7.2003

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu

cảm niệm



那威法雨寺感念



佛 光 西 照 道 昌 明

法 雨 霑 需 潤 有 情

僧 寶 弘 開 歸 覺 路

興 緣 功 德 造 功 程



越 化 增 培 在 此 方

昇 華 善 美 日 煇 煌

同 仁 共 享 繁 榮 利

國 土 人 民 樂 富 強



NA-UY PHÁP-VŨ-TỰ

CẢM NIỆM



Phật-quang Tây chiếu, đạo xương minh,

Pháp-vũ triêm nhu nhuận hữu tình.

Tăng bảo hoằng khai, quy giác-lộ,

Hưng duyên, công đức, tạo công trình.



Việt-hóa tăng bồi tại thử phương,

Thăng hoa, thiện mỹ, nhật huy hoàng.

Đồng nhân cộng hưởng phồn vinh lợi,

Quốc độ, nhân dân lạc phú cường.



Đạo Vàng soi sáng phương Tây,

Nguồn mưa chính-pháp thấm say lòng người.

Quay về giác-đạo vui tươi,

Công trình, công đức vững xây đạo, đời.



Việt-Nam văn hóa nơi đây,

Chung phần tốt đẹp, mỗi ngày văn minh.

Hưởng phần vui vẻ, phồn vinh,

Quốc gia, dân chúng an ninh, phú cường.

Chùa Pháp-Vũ, Sotra, Bergen, Na-Uy

Ngày 11 tháng 07 năm 2003

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu

cảm niệm



TA  VỚI  TA



Hăm tám năm rồi, ta với ta,*

Gắng công làm đạo, vẻ vang nhà.

Góp phần hưng thịnh nơi cư ngụ,

Nghĩ đến quê hương, cảm xót xa !



Việc ấy coi như tạm tạm rồi,

Tương lai đại nghiệp vẫn chưa nguôi !

Sáng danh đạo pháp, an nhân loại,

Đất nước phục hưng, rạng sáng ngời !

Chùa Pháp-Vũ, Bergen, Na-Uy

Ngày 11 tháng 7 năm 2003

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu

cảm niệm



* 1975-2003



HĂM TÁM NĂM QUA



Hăm tám năm qua ở nước ngoài,*

Bôn ba đây đó gội trần ai !

Vì tình dân tộc xa quê cũ,

Vì đạo lưu truyền, khỏi nhạt phai.



Một niệm từ bi, chẳng ngại ngùng,

Chia bùi, xẻ ngọt, góp vui chung.

Với ai vợi khổ, thêm tâm đạo,

Cảm thấy khinh an, dịu cõi lòng !

Không trung, ngày 15.07.2003

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu

cảm niệm



*1975-2003



GIẤC NGỦ TRÊN KHÔNG



Hơi đưa

cánh máy lên trời,

Hồn dâng phiêu đãng

cảnh, người ung dung.

Trường không

mây trắng vẫy vùng,

Khách thiu thiu ngủ

mộng trường viễn du.

Không trung : 31.07.2003



KHÔNG LƯU CẢM VẬN



Giọt nắng mùa Hè

rọi cửa song,

Mây bay gió thoảng

lượn quanh vòng.

Máy ru thiêm thiếp

vờn hoa mộng,

Non nước bao la

bóng trập trùng.

Không trung : 31.07.2003



THỜI VẬN HÀNG KHÔNG



Một thoáng như mơ

thấy lạ lùng,

Đông, thưa, may, rủi

cảm vương vương !

Xưa mười chỗ thoáng,

nay ba chỗ, *

Du khách hàng không

cảm chán chường !

Không trung : 31.07.2003



* Khi xưa đông khách, ghế ngồi hàng ngang mười chỗ,

ngày nay khách thưa, máy bay nhỏ, có ba chỗ ngồi.



HÓA GIẢI MÂU THUẪN



Vũ trụ đầy

mâu thuẫn,

Nhân sinh

chẳng kém chi !

Tình thương

và hiểu biết,

Hòa hợp

khó khăn gì ?

Charlotte : 01.08.2003



PHẬT SỰ GREENVILLE



Lâu nay Phật sự tại Greenville,

Có vẻ không vui tạo lắm điều.

Phải, trái, dở, hay tâm loạn động,

Phật duyên lơ đãng, cảnh hoang liêu.



Mỗi người con Phật, mỗi phần riêng,

Nghiệp lực, nhân duyên chính mối giềng.

Hiểu rõ thời cơ và bổn phận,

Làm tròn công đức, nghĩa thiêng liêng.



Bốn chúng là con của Phật-Đà,

Cùng chung xây dựng chính nhà ta.

Xóa tan dị biệt, quay về cũ,

Về với chân tâm, giác, giác tha.



Mặc sức dựng xây cảnh Phật đường,

Đạo hương tỏa ngát rộng muôn phương.

Tâm an, cảnh tịnh, duyên vô thượng,

Chung bước lên nhà đấng Pháp-Vương.



Tới đó, còn đâu cảnh đấu trường,

Nhìn nhau với cả một lòng thương.

Ung dung tự tại vui nhàn cảnh,

Gió mát trăng thanh, đạt đạo thường !

Greenville : 02.08.2003

Hòa Thượng Thích-Tâm-Châu

cảm tác



LIÊN HOA CHARLOTTE



Tấm thân tỵ nạn khó muôn phương,

Lo kế sinh nhai, giữ mối giềng.

Charlotte không ngoài công lệ ấy,

Liên Hoa biểu hiện, đức vô cương.



Đại-Đức Nguyên-Anh khởi bước đầu,

Năm ba Phật tử bước theo sau.

Mượn nhà, lập hội, chuyên sinh hoạt,

Tâm tưởng hòa theo ý sở cầu.



Mỗi một xuân qua mỗi tiến xa,

Chung lo mua đất với mua nhà.

Nguy nga phạm vũ hương thơm tỏa,

Hội quán nương theo gót Phật-đà.



Thiện sinh Phật tử mỗi ngày thêm,

Mỗi bước chân kiên cứng đá mềm.

Phật pháp luyện rèn, đời thấu tỏ,

Đạo tâm an tịnh đức thanh liêm.



Chân-Hỷ, Chân-Văn dốc một lòng,

Minh-Tâm tiếp tục tạo hanh thông.

Dựng xây nề nếp, thêm văn hóa,

Thăng tiến hòa theo thể đại đồng.



Giáo Hội lưu tâm với mọi người,

Vườn hoa đạo pháp mãi xinh tươi.

Nền văn hóa Việt thêm bền chắc,

Bóng dáng Liên Hoa mãi sáng ngời.

Charlotte, ngày 03.08.2003

Hòa Thượng Thích-Tâm-Châu

cảm tác



VỌNG TƯỞNG ÂM BA



Máy bay lên không trung,

Non nước hiện trập trùng.

Mây trắng hòa theo gió,

Trời xanh ửng ánh hồng.



Tâm tưởng vọng âm ba,

Bâng khuâng non nước nhà !

Chuông xưa văng vẳng vọng,

Vạn Thắng khải hoàn ca !



Nhìn vũ trụ bao la,

Đâu còn cảnh Sa-bà.

Tâm an hòa tịnh lặng,

Muôn vật nở tâm hoa.



Sự vật như Hằng sa,

Dòng tâm như giang hà.

Viên dung trong nhất thể,

Trọn vẹn một sát na.



Quê hương hoa gấm dệt,

Đạo pháp ngợp huy hoàng.

Thành thị phô thanh sắc,

Thôn quê ngát lúa vàng.

Không trung, ngày 04 tháng 08 năm 2003

Hòa Thượng Thích-Tâm-Châu

cảm tác



LÒNG HOA



Hôm nay * nhận được cánh thư tiên,

Vội gửi  liền tay tránh lụy phiền.

Thơ chứa lòng hoa, hoa bất tận,

Vững tin nhân quả đó là duyên.



Hoa đã là hoa, hoa mãi hoa,

Dầu bao sương gió vẫn tran hòa.

Gửi hương cho thế, hương ngào ngạt,

Sắc điểm sân đời vợi xót xa.



Hoa cùng chung đựng lẽ vô thường,

Rầu rĩ làm chi tiếc với thương.

Hình thức phút giây từng biến đổi,

Lòng hoa mãi mãi nhuộm mùi hương.



Hoa biết cùng hoa ai biết hoa,

Lòng hoa sao lạt cõi đường xa.

Phút giây thông cảm niềm ghi nhớ,

Nhớ nỗi niềm hoa bão táp sa.



Lòng hoa đã vững khó lung lay,

Bao áng mây trôi gió vật vầy.

Rèn luyện tim đời thành sắt thép,

Nhưng hương hoa vẫn trải tung bay.



Hạc nội mây ngàn hoa viễn phương,

Trăng thanh gió mát nhuộm mùi hương.

Cánh hoa thấp thoáng lòng trong lặng,

Xanh mát xa xa một bóng hường.

* 22.7.2003



TRĂNG NƯỚC NGUỒN TÂM

Theo vận thơ “Lòng Hoa”



Băm ba năm trước tưởng như tiên,

Gió mát trăng thanh gạt não phiền.

Dâu biển biến thiên theo nghiệp vận,

Ôi nhân duyên ấy ! Ấy nhân duyên !



Thế gian bào ảnh tựa không-hoa,

Tưởng lại niềm vui ý  cộng hòa.

Ven biển bon bon xe nhẹ bánh,

Tay vờn sao lạc niệm xa xa.



Biết rõ vô thường là lẽ thường,

Hợp, tan, tang tóc cảm thương thương !

Thương đời, thương đạo, thương cây cỏ,

Thương cánh hoa tâm vẫn đượm hương.



Ai bảo hoa tâm chẳng phải hoa,

Không hình không bóng, vẫn không xa !

Lâng lâng tiềm ẩn hồn non nước,

Vượt thoát không, thời chẳng vướng, sa.



Tâm tựa kim cương khó chuyển lay,

An nhiên hóa  hiện lẽ xum vầy.

Trăng trong, nước lặng tâm tâm tỏ,

Bàng bạc mây trời nhẹ cánh bay.



Lòng thương lan rộng khắp muôn phương,

Hạnh phúc tự do tỏa ngát hương.

Miên viễn tâm hoa lồng pháp giới,

Hòa chung một thể, chẳng xanh, hường !

Xứ lạnh, ngày 12.08.2003

Thích-Tâm-Châu



GIẤC MỘNG HOA VÀNG



Vũ trụ rộng thênh thang,

Bông hoa điểm cánh vàng.

Vui hòa cùng không giới,

Hương ngát tỏa mênh mang.



Một chiều kia gió lộng,

Cây cỏ ngả ven đàng.

Cành lá lay lay động,

Bóng hoa lẩn dưới tàng.



Phó mặc gió qua lướt,

Lòng hoa vẫn vững vàng.

Hương thơm tràn thanh khí,

Vui đợi nắng xuân sang.



Biết đời là chuyển biến,

Không có chi ngỡ ngàng.

Không khóc than, xao xuyến,

Nhìn tùng đứng hiên ngang.



Thể nhập hội Long-Hoa,

Non sông rộn thái hòa.

Hoa cùng hoa bừng nở,

Tâm tưởng rợp  bao la.

Xứ lạnh, ngày 13 tháng 08 năm 2003

Thích-Tâm-Châu



BÂNG KHUÂNG



Trên ba mươi độ nóng chiều nay *

Gió lửa tung hơi choáng mặt mày.

Ba rưỡi lên xe ra bến cảng,

Người như kiến cỏ lách chen đầy.



Không ngờ mất điện buổi chiều qua *

Một số tỉnh bang bị tối nhòa !

Tắc nghẽn không lưu, người ứ đọng,

Nôn nao về, ở bóng quê xa !



Lẽ ra, năm rưỡi máy bay bay,

Thẳng tới B.C. để kịp ngày.

An vị kim thân vào thứ bảy,

Bâng khuâng về ở tại giờ đây !



Mười rưỡi, may thay, máy động cơ,

Vút lên không giới, thỏa trông chờ!

Tấm thân mệt mỏi hòa theo mộng,

Chợt tỉnh lơ mơ, biết mấy giờ !



Máy bay hạ cánh xuống B.C.,

Một rưỡi đêm khuya chẳng hiểu gì ?

Hành lý chuyển qua nơi đã định,

Rượt theo hành khách, dõi đường đi !



Hành lý ra rồi về Chân-Quang,

Trời khuya gió mát cảm thênh thang.

Sáng mai tiếp tục đi sang Mỹ,

Làm trọn tinh thần tạo Phúc-An *

Vancouver, sáng ngày 16.08.2003

Thích-Tâm-Châu



* 3 giờ chiều ngày thứ sáu : 15 tháng 08 năm 2003 ra phi trường Dorval.

* Chiều ngày 14 tháng 08 năm 2003, New York, một số thành phố Hoa kỳ khác và Toronto bị mất điện hoàn toàn, gây thiệt hại kinh tế khoảng hàng chục tỷ dollars.

* Chủ trì lễ an vị Phật và đặt tên cho Phúc-An Đạo-Tràng tại Seattle, U.S.A.



AN NGUY ĐIỆN KHÍ



Vài thế kỷ nay tiến mạnh, mau,

Công năng điện-khí tạo thêm giầu !

Văn minh tiến bộ coi siêu tuyệt,

Đạo-đức, tâm linh có vẻ rầu !



Đừng tưởng cho rằng điện vạn năng,

Giầu nghèo sướng khổ được san bằng !

Thiên tai dịch họa đều ngưng bặt !

Hạnh phúc an vui tới mọi từng !



Tháng sáu (2003) vừa qua phát bệnh sars !

Bỗng nhiên điện tắt khổ bao là !

Cháy rừng, nóng gắt muôn người chết !

Khoa học đi đâu, vắng bóng nhà ?



Có thân phải biết giữ gìn thân,

Biết đủ là phương thuốc tuyệt trần.

Sống với thiên nhiên, hòa hợp sống,

Trăng trong gió mát dưỡng tinh thần !

Chùa Chân-Quang, ngày 16.08.2003

Thích-Tâm-Châu



ĐẠO TRÀNG PHÚC AN



Kiếp người muôn mặt

khổ tràn lan,

Một niệm tâm sinh

cảnh Phúc-An.

An vị, an tâm,

an đức-nghiệp,

Muôn duyên lắng lặng

hưởng thanh nhàn.

Lễ an vị Phật tại đạo tràng Phúc-An

Seattle, ngày 16.08.2003



TÂM NIỆM NAM QUANG



Nghĩ tới Nam-Quang nghĩ tới người,

Bao bề gian khổ, lắm chêu ngươi.

Bao lần thay đổi, bao phiền lụy,

Chân-Định, liên-đài được thảnh thơi.



Chân-Thuận tiếp theo chẳng sướng gì,

Xan nền, đúc tượng tháng ngày ghi !

Tháp tro An-Lạc hoàn tâm nguyện,

Trút bỏ tâm tư, nhẹ bước đi !



Chân-Lý an bài lẳng lặng theo,

Nhân tình thế thái lắm gieo neo.

Tam quan cố gắng lo tròn đủ,

Quang cảnh chung vui với cảnh nghèo.



Biết bao Phật tử dốc tâm thành,

Ra của, ra công chẳng lợi danh.

Chùa cảnh hình thành người vắng bóng,

Xa xa, nhẹ gót nhập liên-trình.



Phất phơ có có với không không,

Phù phiếm bông lông thỏa cõi lòng.

Non dại nhuộm theo thời đại mới,

Thênh thang, phong cảnh ngắm và trông !



Nghiệp duyên tỵ nạn lánh xa quê,

Văn hóa, văn phong phải hướng về !

An ủi, gắng công tròn phận sự,

Nước non, đạo pháp sánh vai kề.

Chùa Nam-Quang : 17.08.2003



QUÁN THẾ ÂM THIỀN TỰ



Đường đời khấp khểnh với cheo leo,

Chọn kiếp nhân sinh phải gắng trèo.

Một dạ tâm thành theo chính-đạo,

Quán-Âm hộ độ, gắng tin theo !



Thiền-tự mang tên Quán-Thế-Âm,

Duyên may đưa đến cách âm-thầm.

Cảnh yên, hoa lá vui tươi tốt,

Người viếng, lòng trong niệm lặng trầm.



Niệm Phật, tụng kinh với tọa thiền,

Chương trình tu học tiếp liên miên.

Pháp-Hoa, Phạm-Võng, Dược-Sư sám,

Quán-niệm Di-Đà, chủng tịnh-liên.



Đi đứng nằm ngồi tuy phổ thông,

Uy nghi, tế hạnh tạc ghi lòng.

Nói năng cử chỉ như khuôn khổ,

Chính niệm tinh cần ý nguyện chung.



Mỗi ngày hoa lá rụng sân chùa,

Bởi gió lung lay, bởi nắng mưa.

Mỗi sớm tinh sương thiền tọa dậy,

Chổi đưa chậm rãi sạch như lùa.



Mỗi pháp môn tu mỗi ý lành,

Do tâm mình tạo hiện phân minh.

Tinh chuyên giới định sinh chân-tuệ,

Giác-ngộ, an vui mọi sự thành.

San Jose ngày 18.08.2003



PHONG THÁI ĐỨC-VIÊN



Biến cố bảy lăm (1975) tạo não nề,

Đạo, đời chung phận phải rời quê.

Sư Bà Đàm-Lựu hai tay trắng,

Tạo lập Đức-Viên thực gớm ghê !



Giấy báo, lon bia với các-tông,

Lượm về đem bán để hưng công.

Nguy nga phạm-vũ lòng đô thị,

Rầm rập xe qua nức cõi lòng.



Tạo dựng lòng tin, tạo món chay,

Đỡ phần lo lắng cả đêm ngày.

Lập trường dạy trẻ, mời Tăng giảng,

Bố thí, in kinh phổ biến đầy.



Vào ngày giờ tốt buổi đầu xuân *

Thị tịch an nhiên, thể nhập thần.

Hỏa hóa nhục thân lưu xá lợi,

Đức-hương lan tỏa khắp xa gần.



Từ đấy làm ai cũng nghĩ, lo,

Duy trì, phát triển rạng cơ đồ !

Hồng ân Tam Bảo thường gia hộ,

Thuyền giác thênh thang đạt bến bờ.



Đệ tử chuyên cần tiếp dấu xưa,

Tu hành không quản nắng cùng mưa.

Xả thân vì đạo, gương Thầy Tổ,

Cùng dắt nhau lên đạo Nhất-thừa.

San Jose ngày 19.08.2003



* Mùa Xuân Bắc-Mỹ vào tháng 3 dương lịch.



BÀI THƠ VÔ ĐỀ

Mừng Hòa Thượng Thích-Huyền-Tôn



Ẩn tích thao danh trải mấy niên,

Cô thân trầm tưởng ngắm trăng thiền.

Trang kinh dầu dãi đèn leo lét,

Âm hưởng hùng-sư vọng đại-thiên.



Khắp trời đời, đạo thấy đâu đâu,

Quanh quẩn ngược xuôi một biển sầu !

Cùng kiếp nhân sinh, cùng cảnh ngộ,

Dấn thân hành đạo vợi thương đau !



Cảnh mới khang trang cảnh Bảo-Vương,

An nhiên tự tại tuyệt suy lường.

Vòng tay rộng mở muôn phương hợp,

Tâm lượng viên dung đạo xiển dương.



Có có không không lẽ tuyệt vời,

Từ bi hỷ xả cảm vui tươi.

Khen chê hay dở đời thông lệ,

Hơi thở vào ra một kiếp người.



Trăm năm nhân thế có là chi,

Có đến rồi ra phải có đi.

Đi đến thung dung trong chính đạo,

Trăng trong nước lặng cổ kim thì.



Sơn hà đại địa, pháp-vương-thân,

Vòi vọi tu-di, một mảy trần.

Gió thoảng mây bay trời biển rộng,

Trên hoa-tạng-giới ngắm trường xuân.

Mùa Thu xứ lạnh năm 2003

Hòa Thượng Thích-Tâm-Châu

cảm niệm



TÙY HỶ LỄ KHÁNH THÀNH

TU VIỆN QUẢNG ĐỨC



Quảng-Đức tưng bừng lễ khánh thành,

Trải bao gian khổ, được quang vinh !

Mười phương chư Phật thường minh chứng,

Công đức lưu truyền nức sử xanh !



Xem được thư mời cảm thấy thương,

Mười ba năm ấy luyện can trường.

Mưa dầu nắng dãi lồng sương gió,

Tâm vẫn an nhiên, chuyện thế thường !



Ngôi nhà Phật pháp quyết làm xong,

Đem lại niềm vui mọi cõi lòng.

Văn hóa nêu cao trên xứ lạ,

Đạo mầu lan rộng khắp Tây, Đông.



Hình thức hữu vi đã có rồi,

Hướng về muôn loại khắp muôn nơi.

Vượt ngoài sinh tử lên bờ giác,

Chung tạo duyên lành mãi sáng soi.



Ngôi chùa chính thức tại tâm ta,

Ba học vun trồng bát-nhã-hoa.

Muôn kiếp nghìn đời như nhất niệm,

Bao la vạn tượng cảnh Di-Đà !

Tổ-Đình Từ-Quang, Phật-lịch 2547

Canada, ngày 12 tháng 10 năm 2003

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu

cảm niệm



HIẾU ĐỨNG ĐẦU



Sống giữa trần gian, hiếu đứng đầu,

Công ơn cha mẹ rất cao sâu.

Cưu mang chín tháng bao gian khổ,

Lăn lộn quên mưa nắng dãi dầu.



Ba tiếng oe oe khóc gọi đời,

Mẹ cha mừng rỡ mặt xinh tươi.

Mẹ lo săn sóc cho con đỏ,

Cha cố chu toàn khỏi hổ ngươi.



Đến lúc lớn khôn vẫn một lòng,

Lo con mọi việc được thành công.

Lo thành gia thất, thành sự nghiệp,

Hạnh phúc an vui, tiếng lẫy lừng.



Đáp lại công ơn khó nghĩ bàn,

Thực hành hiếu-đạo tận tâm can.

Gắng làm vui đẹp lòng cha mẹ,

Cầu nguyện siêu thăng cảnh giới nhàn.

Mùa Thu, Quý-Mùi ( 2003 )



TINH THẦN LA-HÁN

Kỷ niệm ngày an vị tôn tượng 18 vị

La-Hán tại Tu-viện Phật-Quang, Hoa

viên Việt-Nam, ngày 28.12.2003.

H.T. Thích-Tâm-Châu



Phật pháp cao siêu khó nghĩ bàn,

Đường tu giải thoát vượt gian nan.

Pháp không, cùng ngã đều không trọn,

Tự tại như nhiên tới Niết-bàn.



Ứng hợp căn cơ các chúng sinh,

Tạo duyên, tạo phước, tạo công bình.

Chút lòng xả thí, nhân vô lượng,

Muôn thuở an vui chúng hữu tình.



Nhân sinh, vũ trụ bao tình,

Khổ, vui gieo tại tâm mình mà thôi.

Chư tôn La-Hán thương đời,

Động tâm xả thí, đáp lời gieo duyên.



Độ cho sinh-loại bình yên,

Ban vui, cứu khổ trao truyền tâm linh.

Hữu tình cùng với vô tình,

Viên thành giác-đạo, thênh thênh thoát trần.



Nhân sinh nhiều xốn xang,

Nhân quả không nghiêm trang.

Nhờ bậc Thầy La-Hán,

Muôn vàn phúc duyên sang.



Tự thân, tự sửa mình,

Tự chứng quả Vô-Sinh.

Nhân tốt, đời thêm tốt,

Tạo nên phúc-nghiệp lành !



MỘT TÂM BA VIỆC CHO ĐỜI *



Đông về giữa cảnh tha phương,

Houston ấm đượm tình thương dạt dào.

Phú-Kim trang trọng đón chào,

Hồn quê bàng bạc gửi bao tâm tình.

Chân thành hiếu hạnh nguyên tinh,

Xiển dương Hiếu Đạo, bình minh sáng ngời.

Xi-Đi (CD) lưu lại cho đời,

Cho người soi lại lòng người hiếu trung.

Hương thơm tỏa ngát trập trùng,

Chân-linh cao vượt lên vùng Lạc-bang.

Chung vui trai yến cúng dàng,

Góp duyên xây dựng Phật-Quang nước ngoài.

Một tâm ba việc cho đời,

Mây lành lan trải đất trời tự do.



*6 giờ chiều chủ nhật, ngày 04.01.2004, bà Đại-Thành, Houston, Texas, U.S.A., tổ chức bữa trai yến tại nhà hàng Phú-Kim, cung thỉnh chư tôn-đức Tăng, Ni làm lễ siêu độ Tiểu-Tường cho thân-mẫu bà, ra mắt đĩa CD “Hiếu Ân Trong Ánh Đạo”và gây quỹ cúng dường xây dựng chùa Phật-Quang, Úc-châu.



NIỆM TƯỞNG ĐẠI-ĐỨC CHÂN-HỶ

Đại-Đức vị quốc, vị pháp tự thiêu trước tượng

đài Quán-Âm, chùa Liên Hoa, Charlotte, North

Carolina, U.S.A., 5 giờ sáng ngày 24.12.2003, thọ

74 tuổi



Chân-Hỷ giờ đây ngơi nghỉ rồi !

Nợ trần trang trải thấy an vui !

Nhục thân giả tạm coi như bỏ !

Hành-nghiệp kiên trung thực đáng coi !

Thế giới bao người thương khó tả !

Việt Nam muôn thuở nhớ khôn nguôi !

Nước non, đạo pháp tròn tâm nguyện,

Tỉnh thức lương tri đuốc sáng ngời !

Chùa Liên Hoa, Charlotte

Ngày 31 tháng 12 năm 2003

Hòa Thượng Thích-Tâm-Châu



靜 夜 思

李白



床 前 明 月 光

疑 是 地 上 霜

舉 頭 望 明 月

低 頭 思 故 鄉



TĨNH DẠ TƯ

Lý-Bạch



Sàng tiền minh nguyệt quang,

Nghi thị địa thượng sương.

Cử đầu vọng minh nguyệt,

Đê đầu tư cố hương.



ĐÊM VẮNG NHỚ NHÀ



Ánh trăng lấp lánh đầu giường,

Mơ màng nghĩ tưởng màn sương trên nền.

Ngẩng nhìn trăng sáng ngoài hiên,

Cúi đầu thầm nhớ tổ tiên quê nhà.



 芙蓉樓送新漸

唐王昌齡



寒 雨 連 江 夜 入 吳

平 明 送 客 楚 山 孤

洛 陽 親 友 如 相 問

壹 片 冰 心 在 玉 壺



PHÙ DUNG LÂU TỐNG TÂN-TIỆM

Vương-Xương-Linh, đời Đường



Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô,

Bình minh tống khách Sở sơn cô.

Lạc-Dương thân hữu như tương vấn,

Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.



TRÊN LẦU PHÙ-DUNG

TIỄN CHÂN TÂN-TIỆM



Vào Ngô, mưa lạnh đầy sông,

Sở sơn tiễn khách cõi lòng đơn cô.

Lạc-Dương bạn hỏi nhỏ to,

Lòng trong một tấm ngọc hồ như xưa.

Thích-Tâm-Châu



過泠汀洋

宋文天祥



辛 苦 遭 逢 豈 壹 經

干 戈 潦 落 四 周 星

山 河 破 碎 風 飄 絮

身 勢 浮 沉 雨 打 苹

惶 恐 灘 頭 說 惶 恐

泠 汀 洋 裡 歎 泠 汀

人 生 自 古 誰 無 死

留 守 丹 心 照 汗 青



QUÁ LINH-ĐINH DƯƠNG

Văn-Thiên-Tường, đời Tống



Tân khổ tao phùng khởi nhất kinh,

Can qua liêu lạc tứ chu tinh.

Sơn hà phá toái phong phiêu nhứ,

Thân thế phù trầm vũ đả bình.

Hoàng-Khủng nan đầu thuyết hoàng khủng,

Linh-Đinh dương lý thán linh đinh.

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.



QUA SÔNG LỚN LINH-ĐINH



Đắng cay đâu trải một thì,

Can qua liêu lạc bốn kỳ đó đây.

Nước tan như mảnh lụa bay,

Thân như bèo dạt mưa đày nổi trôi.

Bến kinh sợ, nói sao nguôi !

Biển lênh đênh mãi thốt lời lênh đênh !

Nhân sinh ai khỏi tử sinh ?

Đan-tâm lưu giữ sử xanh soi truyền !

Thích-Tâm-Châu



烏 依 巷

唐劉禹積



朱 雀 橋 邊 野 草 花

烏 依 巷 口 夕 陽 斜

舊 時 王 謝 堂 前 鷰

飛 入 尋 常 百 姓 家



Ô Y HẠNG

Lưu-Võ-Tích, đời Đường



Chu-Tước kiều biên dã thảo hoa,

Ô Y hạng khẩu tịch dương tà.

Cựu thời Vương, Tạ đường tiền yến,

Phi nhập tầm thường bách tính gia.



HẺM Ô Y



Bên cầu Chu-Tước cỏ hoa,

Hẻm Ô Y lẩn bóng tà-dương qua.

Xưa Vương, Tạ, yến la-đà,

Ngày nay nương đậu nơi nhà thường dân.

Thích-Tâm-Châu



BÓNG XƯA NHƯ TẠI



Thiên trúc ba ngàn năm trước kia,

Bóng mây giai cấp phủ che mờ.

Hào quang Đâu Suất bừng lan tỏa,

Sáng tỏa nhân gian tỉnh mộng mơ.



Vịn nhánh Vô Ưu hoa đản sinh,

Gương sen bảy bước hiện chân hình.

Trên trời dưới đất, duy ‘‘chân ngã’’,

Pháp tính như như, vượt thế tình.



Thị hiện trong khung cảnh đế vương,

Lòng trong soi tỏ luật vô thường.

Nô Ma một thuở phi thân ngựa,

Non tuyết cô thân trải dậm trường.



Thân tàn, hơi thở quyện chân thường,

Hòa nhập hư không tuyệt vấn vương.

Sự vật hiện bày chân thật tính,

Thênh thang, ‘‘chân chính’’ một con đường!



Một bát xin ăn khắp mọi nhà,

Một mình một bóng dậm đường xa.

Nay đây mai đó, không ngừng nghỉ,

Cứu vớt sinh linh sạch kiến tà!



Màn đêm tràn ngập cảnh Sa La,

Sắc trở về không ảnh Phật Đà.

Công hạnh ngát thơm lồng vũ trụ,

Bóng xưa như tại vẫn thăng hoa!

Mùa Phật Đản, PL 2548 (2004)



VÀO DÒNG TỈNH THỨC



Nhìn kiếp nhân sinh vắng nụ cười,

Hoa tàn, trăng lạnh, áng mây trôi.

Bâng khuâng cánh nhạn hoàng hôn đổ,

Tỉnh giấc ba sinh, nhập tuyệt vời !



Một chiều xuân Giáp-Thân (2004)

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu



THỜI GIAN TRÔI QUA



Thời gian lặng lẽ trôi qua,

Nhục vinh, thành bại tan hòa chiêm bao.

Màn đêm lấp lánh trăng sao,

Nhân duyên thành trụ ra vào hư không.

Tuổi xanh đua sức vẫy vùng,

Hơi tàn sực tỉnh ! Vận cùng than ôi !

Nghiệp duyên, duyên nợ của người,

Chung vui trang trải nợ đời cho xong !

Sắc, tâm một thể viên dung,

Chung xây đức nghiệp thoát vòng trầm luân.

Hòa trong thể tính trường xuân,

Bình thường tâm đạo, tinh thần an nhiên.

An nhiên, trăng nước bao miền !



Tổ-Đình Từ-Quang,

Ngày rằm tháng Tư, Giáp-Thân (2004)

Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu

No comments:

Post a Comment